Tên vị thuốc: Râu mèo
Tên khoa học: Herba Orthosiphonis spiralis
Tên gọi khác: Cây bông bạc
Họ: Bạc hà (Lamiaceae).
Bộ phận dùng: Toàn cây
Dạng bào chế: Sấy khô
Mô tả cảm quan: Thân non vuông, nhẹ, xốp, dài 20 cm đến 50 cm, đường kính 1 mm đến 3 mm, mặt ngoài màu nâu tím sẫm, có rãnh dọc và có lông trắng nhỏ. Lá nguyên có cuống ngắn, phiến hình mũi mác dài 4 cm đến 6 cm, rộng 2 cm đến 3 cm, mép có răng cưa, đầu lá thuôn nhọn, hai mặt lá màu lục sẫm, phần gân chính có phủ lông mịn. Cụm hoa lá xim co ở ngọn thân và ở đầu cành. Dược liệu có mùi hăng, vị hơi mặn và sau hơi đắng.
Tính vị quy kinh: Cam đạm, vi khổ, lương. Vào các kinh thận, bàng quang. Vị ngọt nhạt, hơi đắng, tính mát.
Công năng, chủ trị: Thanh lợi thấp nhiệt, lợi tiểu. Chủ trị : Viêm thận, viêm bàng quang, sỏi thận, sỏi mật, viêm gan.
Cách dùng – Liều dùng: Ngày dùng từ 5 g đến 6 g, dạng hãm hoặc sắc.
Kiêng kỵ – Thận trọng:
Bài thuốc thường dùng:
- 1. Thuốc thông tiểu tiện dùng trong bệnh sỏi thận, sỏi túi mật, sốt ban, cúm, tê thấp, phù: Râu mèo 5-6g pha với nửa lít nước. Chia 2 lần uống trong ngày, trước khi ăn cơm 15-30 phút. Uống nóng. Thường uống luôn 8 ngày, lại nghỉ 2-4 ngày. Có thể dùng cao lỏng 2-5g.
- 2. Viêm thận phù thũng: Râu mèo, Mã đề, Lưỡi rắn trắng. mỗi vị 30g. Sắc uống.
- 3. Sỏi niệu đạo, bềnh đường tiết niệu: Râu mèo, Chó đẻ răng cưa, thài lài, mỗi vị 30g. Sắc uống.
Tài liệu tham khảo:
1. Dược điển Việt Nam V;
2. Cây thuốc và vị thuốc dùng làm thuốc – Đỗ Tất Lợi;
3. Từ điển cây thuốc Việt Nam – Võ Văn Chi;
4. Mô tả cảm quan: Tiêu chuẩn cơ sở vị thuốc tại BV Y học cổ truyền.




