Tên vị thuốc: Kê huyết đằng
Tên khoa học: Caulis Spatholobi suberecti
Tên gọi khác: Thuyết đằng, Đại hoạt đằng, Dây máu người, Đại huyết đằng, Hồng đằng.
Họ: Đậu (Fabaceae).
Bộ phận dùng: Thân cây
Dạng bào chế: Thái phiến, sấy khô
Mô tả cảm quan: Phiến thuốc hình bầu dục không đều, dày 0,3 – 0,8 cm. Bần màu nâu hơi xám. Mặt cắt ngang: Gỗ màu nâu hơi đỏ hoặc màu nâu. Libe có chất nhựa cây tiết ra, màu nâu hơi đỏ đến màu nâu hơi đen, xếp xen kẽ với gỗ thành 3 – 8 vòng, hình bán nguyệt, lệch tâm. Chất khô cứng. Vị chát.
Tính vị quy kinh: Thân dây có vị đắng, tính ấm Khổ, cam, ôn. Vào các kinh can, thận.
Công năng, chủ trị: Hoạt huyết thông lạc, bổ huyết. Chủ trị: Chứng huyết hư gây huyết ứ trệ, bế thống kinh, chấn thương tụ huyết, phong thấp đau lưng, đau xương khớp. Theo Võ Văn Chi: Kê huyết đằng trị di tinh, đau dạ dày.
Cách dùng – Liều dùng: Ngày dùng từ 10g đến 16g (hoặc 15-30g), dạng thuốc sắc. Dùng ngoài: Lượng thích hợp.
Kiêng kỵ – Thận trọng:
Bài thuốc thường dùng:
- 1. Chữa phong thấp, gân xương đau nhức, tay chân đau mỏi, co quắp, tê dại hoặc sưng nề: Dùng 20-40g Huyết đằng sắc uống, hoặc phối hợp với Cẩu tích, Cốt toái bổ, Ngưu tất, Tỳ giải, mỗi vị 20g, Bạch chỉ 4f, Thiên niên kiện 6g, sắc uống.
- 2. Chữa huyết hư trên đầu xây xẩm, chóng mặt, tim đập không đều, đau nhói ở vùng tim, các khớp xương đau mỏi: Dùng Huyết đằng 20g, Huyền sâm, Mạch môn, Ngưu tất, Hạt muồng sao mỗi vị 15g, Tâm sen 4g, sắc uống.
Tài liệu tham khảo:
1. Dược điển Việt Nam V;
2. Cây thuốc và vị thuốc dùng làm thuốc – Đỗ Tất Lợi;
3. Từ điển cây thuốc Việt Nam – Võ Văn Chi;
4. Mô tả cảm quan: Tiêu chuẩn cơ sở vị thuốc tại BV Y học cổ truyền.








