Thứ Hai, ngày 01 tháng 06 năm 2026. Chào mừng đến cổng thông tin điện tử Bệnh viện Y học cổ truyền Thành phố Hồ Chí Minh.

Thông tin thuốc

Sử dụng thuốc an toàn và hợp lý (số 01-2023)

HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG THUỐC CHO TRẺ EM

Trẻ em là đối tượng đặc biệt, đang trong giai đoạn phát triển để trở thành một người trưởng thành vì vậy khi sử dụng thuốc cho trẻ em cần phải lưu ý để phát huy hiệu quả cao nhất của điều trị mà không làm tổn hại đến quá trình phát triển của trẻ em.

1.1 Nguyên tắc dùng thuốc

– Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ. Cần nhận thức rõ là các thay đổi về dược động học và dược lực học sẽ dẫn đến sự thay đổi trong đáp ứng của thuốc cũng như nguy cơ xảy ra tác dụng không mong muốn.

– Chọn dạng thuốc và đường dùng phù hợp. Ví dụ như các thuốc dạng siro, hỗn dịch, thuốc cốm … thường được ưu tiên sử dụng cho trẻ em

– Tư vấn rõ ràng thông tin về đường dùng và liều cho người chăm sóc trẻ. Các định nghĩa “muỗng cà phê” cần phải được giải thích một cách chính xác.

– Chú ý sự tuân thủ dùng thuốc ở trẻ. Sự tuân thủ dùng thuốc ở trẻ em rất phức tạp vì nhiều lý do, bao gồm trẻ không hợp tác khi dùng thuốc (làm đổ ra, phun ra ngoài), hay cha mẹ hỗ trợ chưa đúng cách (đong thuốc dạng lỏng không chính xác, không lắc đều chai thuốc, đặc biệt là dạng hỗn dịch, canh cho trẻ uống không đúng giờ, đúng thời gian như đã ghi trong đơn thuốc).

1.2. Dược động học ở trẻ em

1.2.1. Hấp thu

Đối với thuốc dùng đường uống

Sự hấp thu thuốc qua đường uống phụ thuộc vào một số yếu tố như công thức thuốc, độ tan rã, nồng độ thuốc, pH dạ dày, lưu lượng máu đến vị trí bề mặt hấp thu, tốc độ làm rỗng dạ dày… Hấp thu thuốc theo đường uống ở trẻ em thất thường do tiến trình hoàn thiện của hệ tiêu hóa trong 3 năm đầu đời.

– pH dạ dày ở trẻ sơ sinh khá cao nên sẽ làm giảm hoặc chậm hấp thu thuốc có tính acid yếu (ví dụ phenobarbital, phenytoin), hoặc thậm chí thuốc có thể bị bất hoạt; ngược lại các thuốc dễ bị phân hủy bởi acid lại ít bị ảnh hưởng và dẫn đến nồng độ trong huyết tương sẽ rất cao (ví dụ penicilin mà nồng độ trong huyết tương ở trẻ sơ sinh đạt mức 5-6 lần so với trẻ lớn). 

– Thời gian làm rỗng dạ dày ở trẻ sơ sinh kéo dài (6-8 giờ), dẫn đến thuốc lưu tại dạ dày lâu và làm chậm chuyển thuốc vào ruột. Hệ quả là tăng sự hấp thu nếu thuốc hấp thu tại dạ dày và làm giảm, làm chậm sự hấp thu nếu là thuốc hấp thu tại ruột non, hiệu quả điều trị có thể đến chậm.

– Nhu động ruột ở trẻ sơ sinh chậm và không đều dẫn đến lượng thuốc hấp thu tại ruột non có thể không đoán trước, nếu nhu động chậm, lượng thuốc được hấp thu nhiều hơn bình thường và dẫn đến ngộ độc.

– Trẻ sơ sinh cũng có nồng độ acid mật và enzym lipase thấp, làm giảm sự hấp thu của thuốc tan trong lipid.

1.2.2. Phân bố

– Trẻ sơ sinh có trọng lượng nước cơ thể (70-75%) cao hơn so với người lớn (50-60%), nước ngoại bào chiếm 40% trọng lượng của trẻ sơ sinh so với 20% của người lớn. Khi tỷ lệ nước trong cơ thể càng cao, các thuốc tan trong nước càng được pha loãng hơn, dẫn đến giảm nồng độ của thuốc trong huyết thanh. 

Bảng 1. Phân bố lượng nước trong cơ thể

Dịch ngoại bào (%) Dịch nội bào (%) Tổng lượng nước (%)
Trẻ sinh non Không xác định Không xác định 85
Trẻ sinh đủ tháng 45-47 32-35 70-80
Trẻ 1 tuổi 25-27 41 58-60
Trẻ 4 tuổi 24 41 60
Nam trưởng thành 10-15 40 50-60

 

– Albumin là protein huyết tương có khả năng gắn kết lớn nhất. Trẻ em có nồng độ albumin và α1-acid glycoprotein thấp.

– Các albumin của trẻ em có khả năng gắn kết với một số thuốc thấp hơn so với albumin của người lớn, vì vậy nồng độ thuốc dạng tự do (không gắn kết) trong huyết tương tăng lên, điều này có thể dẫn đến tác dụng mạnh hơn hoặc tăng độc tính mặc dù tổng nồng độ thuốc (gắn kết và không gắn kết) trong huyết tương bình thường hoặc thậm chí thấp.

1.2.3. Chuyển hóa

Trẻ em ở những năm đầu có khả năng chuyển hóa thuốc kém, dẫn đến thanh thải chậm và kéo dài thải trừ, do đó cần phải điều chỉnh liều và khoảng cách liều dùng thích hợp.

– Ở pha 1, sự hydroxyl hóa thấp dẫn đến thuốc tồn tại lâu ở trẻ sơ sinh. Vì vậy nên tăng khoảng cách giữa các liều hay giảm liều hàng ngày. Ví dụ: meperidin, enalapril, indomethacin, procainamid.

– Ở pha 2, liên hợp với acid glucoronic cũng giảm ở trẻ do tăng lượng billirubin huyết. Một số thuốc bị ảnh hưởng nhiều ở pha 2 là paracetamol, morphin, lorazepam, sulfonamid và steroid.

1.2.4. Thải trừ

Độ lọc cầu thận (GFR) ở trẻ sơ sinh thấp hơn nhiều so với người lớn (30-40% so với độ lọc cầu thận của người lớn). Phương trình Cockroft-Gault hoặc Jelliffe để ước lượng độ thanh thải creatinin (CrCl) ở người lớn không nên sử dụng cho bệnh nhân dưới 18 tuổi. Phương trình của Schwartz là phương pháp phổ biến để ước lượng độ thanh thải creatinin cho trẻ em, kể cả trẻ sơ sinh nhẹ cân, đến bệnh nhân 21 tuổi.

1.3. Lựa chọn thuốc cho trẻ em

Khó khăn trong việc sử dụng thuốc để điều trị cho trẻ em là lớp tuổi này không được phép đem vào thử nghiệm lâm sàng trước khi cấp phép lưu hành với một thuốc mới. Do đó mọi thông tin về dược lý, hiệu quả và độ an toàn đều ngoại suy từ kết quả thử trên động vật non hoặc người trưởng thành. Thông tin về sử dụng thuốc cho trẻ em thường thu thập từ các báo cáo về độ an toàn sau khi thuốc lưu hành và tính chính xác trong hướng dẫn sử dụng thuốc phụ thuộc vào quá trình thu thập dữ liệu để có được các thông tin hướng dẫn bổ sung so với thông tin ban đầu. Kê đơn cho trẻ em thường được khuyên lựa chọn các thuốc đã có thời gian lưu hành đủ dài vì đã có đủ thông tin thu thập từ đối tượng này.

1.3.1. Đường đưa thuốc và dạng thuốc sử dụng

– Đường uống: trẻ em dưới 6 tuổi thường không thể nuốt cả viên nén hoặc viên nang nên ưu tiên dùng các thuốc uống dạng lỏng hoặc pha thành dạng lỏng.

– Khi sử dụng dạng viên (nén hoặc nang), phải lưu ý chọn hàm lượng viên phù hợp với việc chia liều cho từng lứa tuổi; cố gắng tránh việc phải chia nhỏ viên vì sẽ khó có được liều chính xác hoặc gặp dạng viên không được phép nghiền hoặc làm vỡ.

– Ðối với các thuốc uống có dạng lỏng (sirô, bột hoặc cốm pha dung dịch hoặc hỗn dịch uống), cần hướng dẫn sử dụng dụng cụ chia liều; khi lượng thuốc đưa nhỏ hơn 5 ml, nên hướng dẫn sử dụng bơm tiêm nhựa loại 5 ml để rút thuốc uống theo thể tích. Thuốc sau khi pha thành dạng lỏng cần chú ý hạn dùng (thường là trong ngày
hoặc một vài ngày); phần không dùng hết phải bỏ đi cho dù hạn dùng ghi trên bao bì chưa hết. Cần lưu ý người nhà bệnh nhi không được tự ý thêm sữa, nước trái cây hoặc thuốc khác vào dạng thuốc lỏng đã pha để tránh tương tác bất lợi gây giảm liều dùng.

1.3.2. Tư vấn khi sử dụng thuốc cho trẻ em

– Cần giải thích cho người chăm sóc trẻ hiểu về thuốc sử dụng một cách cặn kẽ. Cũng cần giải thích cho những trẻ lớn hay thanh thiếu niên một cách rõ ràng và phù hợp với độ tuổi.

– Cần lưu ý khi chọn giờ cho trẻ uống thuốc: Nên tránh đánh thức trẻ về đêm để trẻ ngủ được đủ giấc; với những trường hợp trẻ mắc bệnh mạn tính, nên tránh giờ trẻ phải uống thuốc ở trường vì khả năng tuân thủ dùng thuốc khó bảo đảm do trẻ quên hoặc mặc cảm với bạn bè không dám uống.

– Sau khi sử dụng thuốc, nên dành thời gian theo dõi trẻ.

Tài liệu tham khảo 

  1. Dược thư quốc gia Việt Nam (2018).
  2. Dược lâm sàng đại cương, NXB Y học (2019), Tr.281-290.
  3. WHO Model List of Essential Medicines for Children – 8th list (2021).
  4. Standard treatment manual for children, Unicef (2017).

HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG THUỐC CHO NGƯỜI CAO TUỔI

Định nghĩa về người cao tuổi không nhất quán theo từng tổ chức, quốc gia và khu vực. Tại Việt Nam, theo Luật người cao tuổi số 39/2009/QH12 quy định người cao tuổi là từ đủ 60 tuổi trở lên. Hiện nay, cùng với sự gia tăng tuổi thọ trung bình trên thế giới, số lượng người cao tuổi cũng ngày càng gia tăng.

Người cao tuổi được xem là đối tượng đặc biệt trong sử dụng thuốc vì ngoài sự thay đổi về chức năng sinh lý của cơ thể do tuổi tác, đối tượng này có thể mắc phải nhiều bệnh mạn tính và phải sử dụng phối hợp nhiều thuốc cùng một lúc. Vì vậy người cao tuổi có nguy cơ gặp phải những vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc như khó tuân thủ điều trị, hiệu quả điều trị, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.

2.1. Nguyên tắc dùng thuốc

– Ghi nhận tiền sử của người bệnh (bao gồm tiền sử bệnh, tiền sử dị ứng, hội chứng lão hóa, thói quen dùng thuốc): là bước quan trọng, nhằm đánh giá sơ bộ tình trạng bệnh nhân, phát hiện biến cố do thuốc (DRP), phòng tránh những biến cố có hại của thuốc và tương tác thuốc.

– Đánh giá và theo dõi việc dùng thuốc trên tổng thể các vấn đề của bệnh nhân: một thuốc sẽ không hợp lý khi không tương ứng với những vấn đề người bệnh gặp phải, nguy cơ cao hơn lợi ích hoặc có sự trùng lặp về điều trị (sử dụng hai thuốc cùng một nhóm).

2.2. Các vấn đề liên quan đến thuốc ở người lớn tuổi

2.2.1. Tương tác thuốc – bệnh

– Một loại thuốc được dùng để điều trị một bệnh có thể làm trầm trọng thêm căn bệnh khác bất kể tuổi của bệnh nhân, những tương tác đó cần được đặc biệt quan tâm ở người cao tuổi. Tình trạng lạm dụng thuốc xảy ra khi tác dụng phụ của một loại thuốc được hiểu sai là một triệu chứng hoặc dấu hiệu của một rối loạn mới và một loại thuốc mới sẽ được kê đơn để điều trị nó. Loại thuốc mới không cần thiết có thể gây ra các tác dụng phụ khác, sau đó có thể bị hiểu nhầm là một rối loạn khác và điều trị không cần thiết. 

Bảng 2. Tương tác thuốc – bệnh ở người cao tuổi (dựa trên tiêu chuẩn Beers cập nhật của Hội lão khoa Hoa Kỳ 2015)
Bệnh Thuốc Tác động bất lợi có thể
Tim mạch

Suy tim

Cilostazol, chất ức chế COX-2, dronedarone (suy tim nặng hoặc gần đây mất bù), thuốc chẹn kênh canxi nondihydropyridine * (diltiazem, verapamil), NSAID, thiazolidinediones (pioglitazone, rosiglitazone) Có thể tăng giữ nước và làm trầm trọng thêm tình trạng suy tim
Ngất Thuốc ức chế acetylcholinesterase, chlorpromazine, thuốc chẹn alpha ngoại biên (doxazosin, prazosin, terazosin), thuốc chống trầm cảm ba vòng thế hệ 3, thioridazine, olanzapine

Tăng nguy cơ tụt huyết áp tư thế đứng hoặc nhịp tim chậm

Hệ thần kinh trung ương

Động kinh mạn tính hoặc cơn động kinh

Bupropion, chlorpromazine, clozapine, maprotiline, olanzapine, thioridazine, thiothixene, tramadol Giảm ngưỡng co giật

Có thể chấp nhận được ở những bệnh nhân có cơn co giật kiểm soát tốt mà các tác nhân thay thế khác không có hiệu quả

Mê sảng Thuốc kháng cholinergic, thuốc chống loạn thần, benzodiazepin, chlorpromazine, corticosteroid †, thuốc chẹn thụ thể H2 (cimetidin, famotidine, nizatidine, ranitidine), meperidine, thuốc ngủ Tình trạng mê sảng trở nên tồi tệ hơn ở người cao tuổi đang có sảng hoặc có nguy cơ mê sảng cao

Thuốc chống loạn thần làm tăng nguy cơ đột quỵ và tử vong ở bệnh nhân sa sút trí tuệ và nên tránh các vấn đề về hành vi của mê sảng trừ khi các lựa chọn không dùng thuốc (ví dụ, can thiệp hành vi) là không thể

Sa sút trí tuệ và suy giảm nhận thức Thuốc kháng cholinergic, thuốc chống loạn thần (sử dụng lâu dài và theo nhu cầu), thuốc benzodiazepine, thuốc chẹn thụ thể H2, thuốc ức chế thụ thể nonbenzodiazepine (eszopiclone, zolpidem, zaleplon) Tác dụng phụ trên hệ thần kinh trung ương

Thuốc chống loạn thần làm tăng nguy cơ đột quỵ và tử vong ở bệnh nhân sa sút trí tuệ và nên tránh các vấn đề về hành vi của chứng sa sút trí tuệ trừ khi các lựa chọn không dùng thuốc (ví dụ, can thiệp hành vi) là không thể

Tiền sử ngã hoặc gãy xương Thuốc chống co giật, thuốc chống loạn thần, benzodiazepine, thuốc an thần không phải là benzodiazepine (eszopiclone, zaleplon, zolpidem), thuốc chống trầm cảm ba vòng, thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin Mất điều hòa, suy giảm chức năng vận động tâm lý, ngất và các lần ngã khác

Các thuốc benzodiazepine tác dụng ngắn không an toàn hơn các thuốc có tác dụng dài

Có thể được sử dụng nếu không có các lựa chọn thay thế an toàn hơn

Tránh các thuốc chống co giật, ngoại trừ có các cơn động kinh

Tránh opioids ngoại trừ kiểm soát đau do gãy xương gần đây hoặc thay khớp

Mất ngủ Thuốc thông mũi (pseudoephedrine, phenylephrine), chất kích thích (amphetamine, armodafinil, methylphenidate, modafinil), theobromines (theophylline, caffeine) Tác dụng kích thích hệ thần kinh trung ương
Bệnh Parkinson Thuốc chống nôn (metoclopramide, prochlorperazine, promethazine), thuốc chống loạn thần (trừ aripiprazole quetiapine và clozapine)

Thuốc đối kháng thụ thể dopamine có khả năng làm trầm trọng thêm các triệu chứng parkinson (ít có khả năng xảy ra với quetiapine, aripiprazole và clozapine)

Đường tiêu hóa

Tiền sử loét dạ dày hoặc tá tràng

Aspirin (> 325 mg/ngày), NSAIDs không chọn lọc COX-2

Làm trầm trọng thêm các vết loét hiện có hoặc gây loét mới

Tránh dùng trừ khi các thuốc thay thế khác không hiệu quả và bệnh nhân có thể dùng thuốc bảo vệ dạ dày (ví dụ thuốc ức chế bơm proton hoặc misoprostol)

Thận và đường tiết niệu

Bệnh thận mãn tính (giai đoạn IV trở xuống: độ thanh thải creatinin <30 mL/phút)

NSAIDs (không phải COX và COX chọn lọc, uống và tiêm) Tăng nguy cơ tổn thương thận cấp và suy giảm chức năng thận
Tiểu không tự chủ (tất cả các týp) ở phụ nữ Estrogen, đường uống và qua da (không bao gồm estrogen đường âm đạo), thuốc chẹn alpha-1 ngoại vi (doxazosin, prazosin, terazosin) Làm nặng thêm tình trạng không tự chủ
Triệu chứng đường tiểu dưới, tăng sản lành tính tuyến tiền liệt Thuốc có tác dụng kháng cholinergic mạnh (ngoại trừ thuốc antimuscarinics cho chứng tiểu không tự chủ) Có thể làm giảm lưu lượng nước tiểu và gây bí tiểu ở nam giới
Tiểu không tự chủ do tăng áp lực hoặc týp hỗn hợp thuốc chẹn α (doxazosin, prazosin, terazosin)

Làm nặng thêm tình trạng tiểu không tự chủ ở nữ giới

2.2.2. Tương tác thuốc – thuốc

– Vì người cao tuổi thường dùng nhiều loại thuốc, đo đó họ rất dễ bị ảnh hưởng bởi tương tác thuốc-thuốc. Người cao tuổi cũng thường xuyên sử dụng dược liệu, chế độ ăn và các chất bổ sung khác và không thông báo với bác sĩ điều trị. Các loại thảo mộc có thể tương tác với các loại thuốc được kê đơn và dẫn đến các tác dụng có hại. Do đó, các bác sĩ nên hỏi bệnh nhân về các chất bổ sung, chế độ ăn uống, bao gồm cả dược liệu và các chất bổ sung vitamin.

2.2.3. Theo dõi không đầy đủ

– Thiếu sự giám sát chặt chẽ, đặc biệt là sau khi các loại thuốc mới được kê đơn, làm tăng nguy cơ tác dụng phụ và không hiệu quả. 

– Các tiêu chí tham khảo để theo dõi và đánh giá sử dụng thuốc:

  • Ghi chép hướng dẫn sử dụng cho một loại thuốc mới
  • Giữ danh sách các loại thuốc mà bệnh nhân sử dụng hiện tại trong hồ sơ bệnh án
  • Theo dõi dùng thuốc để đạt được các mục tiêu chữa bệnh và các phản ứng khác đối với các loại thuốc mới
  • Theo dõi các xét nghiệm cần thiết trong phòng thí nghiệm về hiệu quả hoặc các tác dụng phụ của thuốc
  • Định kỳ đánh giá thuốc nếu tiếp tục cần sử dụng

2.2.4. Lựa chọn thuốc không phù hợp

– Một loại thuốc là không phù hợp nếu nguy cơ gây hại lớn hơn lợi ích của nó. Sử dụng thuốc không hợp lý có thể liên quan đến:

  • Lựa chọn thuốc không hợp lý, liều lượng, tần suất dùng thuốc, hoặc thời gian điều trị
  • Điều trị trùng lặp
  • Không xem xét tương tác thuốc và hướng dẫn sử dụng đúng của thuốc
  • Các loại thuốc phù hợp được tiếp tục sử dụng sai khi tình trạng cấp tính đã được giải quyết (có thể xảy ra khi bệnh nhân di chuyển từ một cơ sở y tế này sang nơi khác)

2.2.5. Tuân thủ điều trị kém

– Hiệu quả của thuốc thường bị ảnh hưởng bởi sự kém tuân thủ điều trị của người cao tuổi điều trị ngoại trú. Nguyên nhân có thể do:

  • Khó khăn tài chính và thể chất có thể làm cho việc mua thuốc trở nên khó khăn
  • Các vấn đề về nhận thức, có thể làm cho việc uống thuốc theo hướng dẫn khó khăn
  • Sử dụng quá nhiều loại thuốc
  • Việc sử dụng các loại thuốc phải uống nhiều lần trong ngày hoặc theo cách cụ thể cho từng loại
  • Thiếu sự hiểu biết về hiệu quả của một loại thuốc (lợi ích) hoặc cách nhận biết và xử lí các tác dụng phụ (gây hại)

2.2.6. Quá liều thuốc

– Có thể kê thuốc quá liều cho bệnh nhân cao tuổi nếu người kê đơn không xem xét những thay đổi liên quan đến tuổi có ảnh hưởng đến dược động học và dược lực học của thuốc. Chẳng hạn, nên điều chỉnh liều thuốc thải trừ qua thận ở bệnh nhân suy thận.

– Nói chung, mặc dù liều thuốc có thể thay đổi đáng kể từ người này sang người khác, nhưng thuốc nên bắt đầu với liều thấp nhất ở người lớn tuổi. Thông thường, liều khởi đầu bằng khoảng một phần ba đến một nửa liều thông thường của người lớn được chỉ định khi thuốc có chỉ số điều trị hẹp, khi một tình trạng khác có thể trầm trọng hơn do thuốc, và đặc biệt khi bệnh nhân suy nhược. Liều thuốc sau đó được tăng dần nếu dung nạp để đạt hiệu quả mong muốn. Khi tăng liều, bệnh nhân cần được đánh giá về các tác dụng phụ và nồng độ thuốc cần được theo dõi nếu có thể.

Tài liệu tham khảo 

  1. Dược thư quốc gia Việt Nam (2018).
  2. Dược lâm sàng đại cương, NXB Y học (2019), Tr.281-290.
  3. American Geriatrics Society 2015 Updated Beers Criteria for Potentially Inappropriate Medication Use in Older Adults, Journal of the American Geriatrics Society 63 (11):2227- 46, 2015.
  4. Vincent C. Tam, Sandra R. Knowles, Patricia L. Cornish, Frequency, type and clinical importance of medication history errors at admission to hospital: a systematic review, 173 (5):510-5, 2005

HƯỚNG DẪN LỰA CHỌN ĐƯỜNG DÙNG KHÁNG SINH

Lựa chọn đường dùng tối ưu là một khía cạnh quan trọng trong sử dụng thuốc hợp lý, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và hiệu quả điều trị, đặc biệt là đối với kháng sinh. Đường uống là đường dùng được ưu tiên vì tính tiện dụng, an toàn, hạn chế các tác dụng bất lợi của kháng sinh đường tĩnh mạch và giá thành rẻ.

3.1 Lựa chọn đường dùng kháng sinh

Lựa chọn đường dùng kháng sinh phù hợp tùy thuộc vào mức độ nặng nhẹ của nhiễm khuẩn:

– Nhiễm khuẩn nhẹ và/hoặc điều trị ngoại trú: Đường uống

– Nhiễm khuẩn nhẹ – trung bình và/hoặc điều trị trong bệnh viện và/hoặc đường uống bị hạn chế (nôn, tiêu chảy nặng, rối loạn nuốt, mất ý thức như ngất, hôn mê…): đường tiêm IM, IV hoặc có thể dùng kháng sinh uống nhưng phải có sinh khả dụng cao, ví dụ như floroquinolon, fluconazol có sinh khả dụng xấp xỉ 100%.

– Nhiễm khuẩn nặng, đe dọa tính mạng: đường tiêm IV.

Bảng 3: Sinh khả dụng của vài kháng sinh thường dùng hoặc hiện có tại bệnh viện

STT Kháng sinh Đường dùng Sinh khả dụng
1 Cefoxitin IV 100%
2 Cefixim PO 30 – 50%, ít bị ảnh hưởng thức ăn
3 Ceftriaxon IV 100%
4 Doxycyclin PO 95% (giảm hấp thu bởi canxi, magnesi, nhôm)
5 Amoxicilin + acid clavulanic PO 70%
6 Ofloxacin PO 100%, không bị ảnh hưởng thức ăn
7 Ciprofloxacin PO 60-80%, ít bị ảnh hưởng thức ăn
8 Levofloxacin PO 99%, không bị ảnh hưởng thức ăn
9 Moxifloxacin PO 90%, không bị ảnh hưởng thức ăn
10 Fosfomycin PO 30 – 40%, bị ảnh hưởng bởi thức ăn
11 Clindamycin PO 80-100%
12 Linezolid PO 100%
13 Metronidazol PO 80%
14 Fluconazol PO > 90%

3.2 Sử dụng kháng sinh đường uống thay cho đường tĩnh mạch

Nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trị xử trí các nhiễm khuẩn thường được điều trị bằng kháng sinh đường tĩnh mạch dài ngày so với phác đồ kháng sinh đường tĩnh mạch ngắn hạn đã được thực hiện và cho kết quả như sau: sau khi kiểm soát đầy đủ nguồn gây nhiễm khuẩn, lợi ích của kháng sinh đường tĩnh mạch chỉ giới hạn trong vài ngày đầu của đợt điều trị. 

Một số thử nghiệm ngẫu nhiên, có đối chứng đã nghiên cứu về các loại nhiễm khuẩn khác và độ dài của đợt điều trị. Đợt điều trị ngắn có thể đem lại hiệu quả tương đương với điều trị dài ngày trong các trường hợp: viêm phổi mắc phải tại cộng đồng hoặc viêm phổi liên quan đến thở máy, nhiễm khuẩn tiết niệu phức tạp, nhiễm khuẩn ổ bụng có biến chứng, nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn Gram (-), đợt cấp bệnh phổi mạn tính, hoặc nhiễm khuẩn da và mô mềm.

Theo tạp chí Australian Prescriber, kháng sinh tiêm tĩnh mạch thường được sử dụng quá mức trong bệnh viện, trong khi nhiều bệnh nhiễm khuẩn có thể được kiểm soát bằng kháng sinh đường uống. Kháng sinh đường uống có ưu điểm là tránh các tác dụng phụ của kháng sinh tiêm tĩnh mạch và thường ít tốn kém hơn. Khi kháng sinh tiêm tĩnh mạch được chỉ định, có thể chuyển sang đường uống sau một đợt điều trị ngắn. Các bệnh nhiễm trùng phù hợp với kháng sinh tiêm tĩnh mạch ngắn hạn bao gồm viêm phổi, nhiễm trùng đường tiết niệu phức tạp, một số bệnh nhiễm trùng trong ổ bụng. Nhiễm trùng xương và khớp và nhiễm trùng viêm nội tâm mạc được điều trị với kháng sinh tiêm tĩnh mạch kéo dài.

Theo nghiên cứu của Van Den Broek và cộng sự, kháng sinh đường tĩnh mạch thường được ưu tiên trong pha cấp của nhiễm khuẩn hệ thống để đảm bảo đủ nồng độ tại vị trí tác động do quan ngại về thay đổi dược động học trên người bệnh hồi sức như giảm hấp thu, tăng thể tích phân bố và tăng thanh thải. Tuy nhiên những quan ngại này có thể không áp dụng cho phần lớn dân số không phải hồi sức trong pha cấp của nhiễm trùng không đe dọa tính mạng. Việc sử dụng kháng sinh tĩnh mạch có thể khiến người bệnh có nguy cơ gặp phải biến chứng như nhiễm trùng từ catheter, huyết khối, viêm mạch, hạn chế vận động đồng thời làm tăng số ngày nằm viện và chi phí điều trị. Do đó, chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm sang đường uống là một phần quan trọng trong chương trình quản lý kháng sinh. Đây có thể là nghiên cứu đầu tiên khảo sát dược động của kháng sinh đường uống trong pha cấp trên người bệnh nhiễm trùng không đe dọa tính mạng. Nhìn chung, kết quả từ nghiên cứu ủng hộ việc sử dụng kháng sinh đường uống trên phần lớn dân số có nhiễm trùng không đe dọa tính mạng, không có bất thường đường tiêu hóa và có thể uống được.

Tài liệu tham khảo

  1. Bộ Y tế (2015), Hướng dẫn sử dụng kháng sinh.
  2. Quyết định số 5631/QĐ-BYT ngày 31/12/2020, về việc ban hành tài liệu “Hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện”.
  3. Dược thư quốc gia Việt Nam (2018).
  4. Tờ hướng dẫn sử dụng thuốc.
  5. Kate McCarthy, Minyon Avent, Oral or intravenous antibiotics?, Australian prescriber, Vol 43: No.2 (2020), p.45-48.
  6. A.K Van Den Broek, C.E Visser, The effect of the acute phase of infection on absorption of and exposure to orally administered antibiotics in non-critically ill, hospitalized patients, Journal of antimicrobial Chemotherapy, Volume 78, Issue 2, February 2023, Pages 389–396. 

HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG THUỐC BETA BLOCKER

Thuốc chẹn beta giao cảm là nhóm thuốc chủ yếu được sử dụng để điều trị các bệnh lý về tim mạch. Nhóm thuốc này đã được FDA chỉ định để điều trị: nhịp tim nhanh, tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, suy tim sung huyết, rối loạn nhịp tim, bệnh mạch vành, cường giáp, run cơ, bóc tách động mạch chủ, tăng áp lực tĩnh mạch cửa, tăng nhãn áp, dự phòng đau nửa đầu và các bệnh lý khác. Chúng cũng được sử dụng để điều trị các bệnh ít phổ biến hơn như: hội chứng QT kéo dài và bệnh cơ tim phì đại [1]. Bài viết dưới đây xin chia sẻ một số thông tin về cơ chế tác dụng, phân loại của nhóm thuốc chẹn beta cũng như sự khác nhau về dược động học, chỉ định, chống chỉ định, liều dùng, tương tác thuốc, tác dụng không mong muốn của các thuốc chẹn beta giao cảm.

4.1 Cơ chế tác dụng

Thụ thể beta adrenergic gồm 3 loại: beta-1 (B1), beta-2 (B2), beta-3 (B3), trong đó áp dụng trên lâm sàng nhiều nhất là thụ thể B1 và B2. Thụ thể B1 có nhiều trên tim và thận. Thụ thể B2 có nhiều trên phế quản, cơ trơn mạch máu, tiêu hóa, cơ xương khớp… Thụ thể B3 có trên mô mỡ, bàng quang, ruột.

Nhóm thuốc chẹn beta có tác động ức chế hoạt động của các chất dẫn truyền thần kinh adrenalin và noradrenalin thông qua cơ chế chẹn thụ thể beta, ngăn chặn các chất này gắn vào thụ thể B1 và B2 của tế bào thần kinh giao cảm, do đó có tác dụng làm chậm nhịp tim, giãn mạch máu, giảm huyết áp, co thắt phế quản…

Một khi thuốc chẹn beta liên kết với các thụ thể B1 và B2 chúng sẽ ức chế các thụ thể này. Do đó, các hiệu ứng chronotropic và inotropic (tăng nhịp tim và tăng lực co bóp) trên tim sẽ bị ức chế, và kết quả là làm chậm nhịp tim. Thuốc chẹn beta cũng làm giảm huyết áp thông qua một số cơ chế, bao gồm giảm renin và giảm cung lượng tim. Các hiệu ứng giảm nhịp tim và lực co bóp cơ tim sẽ dẫn đến giảm nhu cầu oxy của tim; đó là cách cải thiện chứng đau thắt ngực sau khi sử dụng thuốc chẹn beta. Những loại thuốc này cũng kéo dài thời gian chịu đựng của tâm nhĩ và có tác dụng chống loạn nhịp tim mạnh [1].

Picture1 3

Hình 1: Cơ chế tác dụng của các chất chủ vận thụ thể beta 

Picture2 1

Hình 2: Cơ chế tác dụng của các thuốc chẹn beta giao cảm

4.2 Phân loại nhóm thuốc chẹn beta giao cảm

Thuốc chẹn beta khác nhau về tính đặc hiệu đối với các thụ thể khác nhau. Do đó, tác dụng của thuốc phụ thuộc vào loại thụ thể tác động cũng như cơ quan chịu tác động. Một số thuốc chẹn beta cũng liên kết với các thụ thể alpha ở một mức độ nào đó, dẫn đến hiệu quả lâm sàng khác.

 Thuốc chẹn beta giao cảm chia thành 3 thế hệ:

  • Thế hệ 1: gồm propranolol, timolol, nadolol…

Đây là các thuốc chẹn beta không chọn lọc. Các thuốc nhóm này vừa chẹn B1 đồng thời lại vừa chẹn B2, dẫn đến làm giảm nhịp tim, giãn mạch, giảm sức cản ngoại vi, hạ huyết áp.

  • Thế hệ 2: gồm atenolol, bisoprolol, metoprolol…

Tác động chẹn chọn lọc chủ yếu trên thụ thể B1 nên tác dụng chính bao gồm làm chậm nhịp tim, giảm co thắt, giảm cung lượng tim, giảm huyết áp. Vì cơ chế này mà thuốc ức chế beta thế hệ 2 có hiệu quả hạ áp nhanh, mạnh nhưng cũng đồng thời làm chậm nhịp tim, không có lợi cho những người nhịp tim chậm.

  • Thế hệ 3: gồm carvedilol, labetalol, nebivolol…

– Nhóm chẹn cả thụ thể alpha và beta (carvedilol, labetalol): tác động ức chế không chọn lọc trên B1 và B2, đồng thời lại chẹn thụ thể alpha-1, gây ra tác dụng giãn mạch, giảm sức cản ngoại vi, hạ huyết áp.

– Nhóm chẹn thụ thể B1 chọn lọc (nebivolol): tác động ức chế chọn lọc trên B1 có kèm thêm tác động giãn mạch thông qua NO.

 

Hình 3: Tác dụng giãn mạch của thuốc chẹn beta thế hệ 3
4.3 Bảng so sánh đặc điểm các thuốc chẹn beta giao cảm
 

Thế hệ 1

Chẹn beta không chọn lọc

Thế hệ 2

Chẹn beta chọn lọc (chẹn B1)

Thế hệ 3

Propranolol

Nadolol Metoprolol succinat Bisoprolol Atenolol Labetalol Carvedilol

Nebivolol

Brand name

Inderala

Corgard BetalokZokc Concord Tenormin Trandate Coreg

Nebilet

Tác dụng dược lý Chẹn beta không chọn lọc, không có tác dụng giao cảm nội tại, giảm nhu cầu sử dụng oxy của cơ tim, giảm tốc độ và mức độ co cơ tim, có hoạt tính ổn định màng, chống loạn nhịp.

Giảm và ngăn chặn chứng đau nửa đầu. Chống run sinh lý và run vô căn.

Chẹn beta không chọn lọc, không có tác dụng giao cảm nội tại, ít tác dụng trực tiếp cơ tim. giảm tốc độ và mức độ co cơ tim, giảm nhu cầu sử dụng oxy của cơ tim. Tuy nhiên, có thể gây tăng nhu cầu oxy bằng cách tăng độ dài sợi cơ thất trái.

Giảm và ngăn chặn chứng đau nửa đầu.

Chẹn beta chọn lọc, tuy nhiên không chọn lọc tuyệt đối, không có hoạt tính giao cảm nội tại và có rất ít tác dụng ổn định màng, có tác dụng giảm co bóp cơ tim, làm chậm nhịp xoang và làm giảm dẫn truyền nút nhĩ – thất, giảm cung lượng tim,  làm giảm nhu cầu oxygen của tim ở mọi mức độ gắng sức. Tuy nhiên, ở bệnh nhân suy tim, sự chẹn beta-adrenergic có thể làm tăng nhu cầu oxy do tăng áp lực buồng tim, tăng độ dài sợ cơ thất trái. Chẹn chọn lọc beta, không có tính ổn định màng, không có tác dụng giống thần kinh giao cảm nội tại, ức chế thận giải phóng renin và ức chế tác động của hệ thần kinh giao cảm.

Giảm lưu lượng, tần số của tim lúc nghỉ và khi gắng sức.

Giảm các triệu chứng suy tim, cải thiện lâm sàng của người bị suy tim.

Chẹn chọn lọc thụ thể beta1 – adreneric, không có tác dụng giao cảm nội tại và đặc tính ổn định màng tế bào.

Ức chế chọn lọc thụ thể beta1 trên tim làm giảm tính điều nhịp lẫn tính co bóp của tế bào cơ tim, làm giảm cung lượng tim và giảm tiêu thụ oxy cơ tim.

Chẹn chọn lọc thụ thể alpha 1 và chẹn thụ thể beta 1, 2. Không có hoạt tính nội tại alpha – adrenergic.

Làm hạ huyết áp mà không làm giảm nhiều tần số tim lúc nghỉ, cung lượng tim và lượng máu tống ra sau mỗi lần co bóp tim. Làm hạ huyết áp nhanh hơn so với các loại chẹn beta khác, tác dụng 1 – 3 giờ sau khi uống 1 liều.

 

Là một hỗn hợp racemic có tác dụng giãn mạch do chẹn không chọn lọc thụ thể beta – adrenergic, chẹn chọn lọc alpha1– adrenergic, không có tác dụng nội tại nhưng có tác dụng vững bền màng tế bào yếu, ngoài ra còn có tác dụng chống oxy hóa. Ức chế chọn lọc thụ thể beta1– adrenergic tác dụng kéo dài, không có hoạt tính giao cảm nội tại, hoạt tính ổn định màng, kích thích nito oxyd (NO) nội mô mạch máu làm giãn mạch, ức chế thụ thể  beta1– adrenergic ở tim.

Giảm nhip tim, huyết áp, giảm đau thắt ngực và bảo vệ tim.

Đường dùng Uống Uống Uống Uống Uống Uống Uống Uống
Sinh khả dụng 25% 30 – 40% 50% 90% 50% 25% 25-35% 12% ở BN chuyển hóa nhanh và gần như hoàn toàn ở BN chuyển hóa chậm.
Liên kết với protein huyết tương (%) > 90% 30% 5-10 % 30% 6 – 16% 50% 98% 97 – 98%
Thời gian bán thải 3-6 h 10 – 24h 3,5 h 10-12 h 6-7 h 6-8 h 7-10 h 10h ở BN chuyển hóa nhanh

30-50h ở BN chuyển hóa chậm

Chỉ định – Tăng huyết áp

– Đau thắt ngực

– Dự phòng dài hạn sau nhồi máu cơ tim cấp

– Bệnh cơ tim phì đại tắc nghẽn

– Run vô căn

– Loạn nhịp trên thất, loạn nhịp thất

– Cường giáp và nhiễm độc giáp

– U tủy thượng thận.

– Dự phòng đau nửa đầu.

– Dự phòng xuất huyết tiêu hóa trên bệnh nhân có tăng áp lực tĩnh mạch cửa và giãn tĩnh mạch thực quản

– Tăng nhãn áp.

– Đau thắt ngực ổn định mạn tính

– Loạn nhịp tim

– Dự phòng đau nửa đầu.

– Điều trị hỗ trợ trong nhiễm độc giáp

 

-Tăng huyết áp

– Điều trị dài hạn cơn đau thắt ngực.

– Suy tim mạn có phân suất tống máu giảm (EF < 40%) ổn đinh.

– Dự phòng sau NMCT.

– Điều trị một số rối loạn nhịp nhanh

– Tăng huyết áp

– Bệnh mạch vành (đau thắt ngực).

– Suy tim mạn tính ổn định kèm suy giảm chức năng tâm thu thất trái kết hợp với thuốc ức chế men chuyển, lợi tiểu, glycosid tim

-Tăng huyết áp.

– Đau thắt ngực do xơ vữa động mạch vành.

– Nhồi máu cơ tim cấp.

-Tăng huyết áp -Tăng huyết áp

– Rối loạn chức năng thất trái sau nhồi máu cơ tim.

– Suy tim mạn tính.

-Tăng huyết áp

– Suy tim mạn tính

 

Chống chỉ định – Suy tim mất bù

– Hội chứng suy nút xoang/block xoang nhĩ

– Hen phế quản, hoặc tiền sử hen phế quản, bệnh COPD.

– Toan chuyển hóa

– Sốc tim

– Block nhĩ thất độ 2, 3.

– Chậm nhịp tim mức độ nặng

– Hạ huyết áp nặng

– Rối loạn tuần hoàn động mạch ngoại biên nặng

– Đau thắt ngực Prinzmetal

– U tủy thượng thận chưa được điều trị

– Bệnh nhân nhạy cảm với tình trạng hạ đường huyết hoặc đói kéo dài.

– Hen phế quản, hoặc tiền sử hen phế quản

– Nhịp chậm xoang

– Block nhĩ thất độ 2 trở lên

– Sốc tim

– Suy thất phải thứ phát do tăng áp động mạch phổi

– Suy tim mất bù

– Nhịp tim chậm nghiêm trọng.

– Block nhĩ thất độ 2, độ 3.

– Sốc tim.

– Suy tim mất bù cấp

-Hội chứng

Suy nút xoang.

– Block nút xoang

– Hạ huyết áp

-Hen suyễn nặng và COPD nghiêm trọng.

-U tủy thượng thận.

-Dùng đồng thời với các thuốc chống loạn nhịp nhóm I (trừ lidocain) và verapamil.

– Suy tim cấp hoặc các giai đoạn suy tim mất

bù.

– Sốc tim.

-Block nhĩ thất độ 2, độ 3 (không có máy tạo nhịp).

– Block xoang nhĩ.

– Hội chứng suy nút xoang.

– Nhịp tim chậm.

– Huyết áp thấp

– Hen phế quản nặng

– Thể nặng bệnh tắc động mạch ngoại biên hoặc hội chứng Raynaud.

– U tuyến thượng thận.

– Toan chuyển hoá.

 

 

-Nhịp xoang chậm.

-Block tim độ 2, độ 3.

-Sốc tim

-Suy tim mất bù.

-Hen phế quản

-Suy tim nặng.

-Block tim độ 2, độ 3

-Sốc tim

-Nhịp tim chậm nghiêm trọng.

-Hạ huyết áp nặng và kéo dài.

 

-Hen phế quản hoặc bệnh co thắt phế quản.

-Block nhĩ thất độ 2, độ 3.

-Hội chứng suy nút xoang.

-Nhịp tim chậm nghiêm trọng.

-Sốc tim hoặc suy tim mất bù.

-Suy gan nặng

 

 

-Suy gan hoặc rối loạn chức năng gan.

-Suy tim cấp, sốc tim, hoặc suy tim mất bù.

-Hội chứng suy nút xoang, bao gồm cả bloc xoang- nhĩ.

-Block tim độ 2 và độ 3 (mà chưa đặt máy tạo nhịp).

-Tiền sử co thắt phế quản hoặc hen phế quản.

-Bệnh nhân bị u tế bào ưa sắc chưa được điều trị.

-Nhiễm toan chuyển hoá.

-Nhịp tim chậm (nhịp tim < 60 bpm trước khi bắt đầu điều trị).

-Hạ huyết áp (huyết áp tâm thu < 90 mmHg).

-Bệnh mạch máu ngoại biên nặng.

 

Tài liệu tham khảo 

  1. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK532906/
  2. Dược thư quốc gia Việt Nam 2022.
  3. Uptodate 2023
  4. Tờ hướng dẫn sử dụng của thuốc 

CẬP NHẬT HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG CỦA DOMPERIDON

Theo công văn số 9234/QLD-ĐK ngày 25/05/2015 về việc cập nhật thông tin dược lý đối với thuốc chứa domperidon, thông tin kê toa của thuốc chứa domperidon được thay đổi và bổ sung như sau:

5.1 Chỉ định

Được chỉ định để điều trị triệu chứng nôn và buồn nôn.

5.2 Liều dùng và cách dùng

5.2.1 Liều dùng

Chỉ nên sử dụng liều thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất để kiểm soát nôn và buồn nôn.

Người lớn và trẻ vị thành niên (từ 12 tuổi trở lên và cân nặng từ 35 kg trở lên): một viên 10 mg, có thể dùng lên đến 3 lần/ngày, liều tối đa là 30 mg/ngày.

Trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, trẻ em (dưới 12 tuổi) và trẻ vị thành niên cân nặng dưới 35 kg: cần liều dùng chính xác nên dạng thuốc viên nén bao phim, viên nén không thích hợp cho trẻ nhỏ và trẻ vị thành niên cân nặng dưới 35 kg.

Bệnh nhân suy gan: thuốc này chống chỉ định với bệnh nhân suy gan trung bình và nặng (xem phần Chống chỉ định). Không cần hiệu chỉnh liều đối với bệnh nhân suy gan nhẹ.

Bệnh nhân suy thận: Do thời gian bán thải của domperidon bị kéo dài ở bệnh nhân suy thận nặng nên nếu dùng nhắc lại, số lần đưa thuốc cần giảm xuống còn 1 đến 2 lần/ngày và hiệu chỉnh liều tùy thuộc mức độ suy thận. Nói chung bệnh nhân điều trị dài ngày phải được xem xét lại đều đặn.

5.2.2 Cách dùng

Nên uống trước bữa ăn. Nếu uống sau bữa ăn, thuốc có thể bị chậm hấp thu.

Bệnh nhân nên uống thuốc vào thời gian cố định. Nếu bị quên 1 liều, có thể bỏ qua liều đó và tiếp tục dùng thuốc theo lịch trình như cũ. Không nên tăng liều gấp đôi để bù cho liều đã quên.

Thời gian điều trị tối đa không nên quá 1 tuần.

 5.3 Chống chỉ định

Domperidon chống chỉ định trong những trường hợp sau:

– Mẫn cảm với domperidon hay thành phần của thuốc.

– U tuyến yên tiết prolactin (prolactinoma)

– Khi việc kích thích vận động dạ dày có thể nguy hiểm, ví dụ bệnh nhân đang xuất huyết đường tiêu hóa, tắc ruột cơ học hoặc thủng tiêu hóa.

– Bệnh nhân suy gan trung bình và nặng

– Bệnh nhân có thời gian dẫn truyền xung động tim kéo dài, đặc biệt là khoảng QT, bệnh nhân có rối loạn điện giải rõ rệt hoặc bệnh nhân đang có bệnh tim mạch như suy tim sung huyết.

– Dùng đồng thời với các thuốc kéo dài khoảng QT, ngoại trừ apomorphin.

– Dùng đồng thời với các thuốc ức chế CYP3A4 (không phụ thuộc tác dụng kéo dài khoảng QT).

5.4 Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc

Tác dụng trên tim mạch

Domperidon làm kéo dài khoảng QT trên điện tâm đồ. Trong quá trình giám sát hậu mại, có rất ít báo cáo về kéo dài khoảng QT và xoắn đỉnh liên quan đến sử dụng domperidon. Các báo cáo này có các yếu tố nguy cơ gây nhiễu như rối loạn điện giải hay các thuốc dùng đồng thời (xem mục Tác dụng không mong muốn).

Các nghiên cứu dịch tễ cho thấy domperidon có thể làm tăng nguy cơ loạn nhịp thất nghiêm trọng hoặc đột tử do tim mạch (xem mục Tác dụng không mong muốn). Nguy cơ này cao hơn đối với bệnh nhân trên 60 tuổi, bệnh nhân dùng liều hằng ngày lớn hơn 30 mg và bệnh nhân dùng đồng thời thuốc kéo dài khoảng QT hoặc thuốc ức chế CYP3A4.

Sử dụng domperidon với liều thấp nhất có hiệu quả ở người lớn và trẻ em.

Chống chỉ định domperidon cho những bệnh nhân có thời gian dẫn truyền xung động tim kéo dài, đặc biệt là khoảng QT, bệnh nhân có rối loạn điện giải rõ rệt (hạ kali máu, tăng kali máu, hạ magnesi máu), nhịp tim chậm hoặc bệnh nhân đang mắc bệnh tim mạch như suy tim sung huyết do nguy cơ rối loạn nhịp thất (xem phần Chống chỉ định). Rối loạn điện giải (hạ kali máu, tăng kali máu, hạ magnesi máu) hoặc nhịp tim chậm đã được biết đến là yếu tố làm tăng nguy cơ loạn nhịp tim.

Cần ngừng điều trị với domperidon và trao đổi lại với cán bộ y tế nếu có bất kỳ triệu chứng hay dấu hiệu nào liên quan đến rối loạn nhịp tim.

Khuyên bệnh nhân nên nhanh chóng báo cáo các triệu chứng trên tim mạch.

Sử dụng với apomorphin

Chống chỉ định domperidon với các thuốc kéo dài khoảng QT bao gồm apomorphin, trừ khi lợi ích khi phối hợp hai thuốc vượt trội hơn so với nguy cơ và chỉ khi các cảnh báo khuyến cáo của phối hợp này đã được thực hiện một cách nghiêm túc.

Sử dụng ở trẻ nhỏ

Mặc dù tác dụng phụ thần kinh là hiếm gặp, nguy cơ gặp tác dụng phụ trên thần kinh cao hơn ở trẻ nhỏ do chức năng chuyển hóa và hàng rào máu não chưa phát triển hoàn chỉnh trong những tháng đầu đời. Quá liều có thể gây các triệu chứng ngoại tháp ở trẻ em, nhưng cũng nên xem xét đến các nguyên nhân khác.

Suy thận

Thời gian bán thải của domperidon bị kéo dài ở bệnh nhân suy thận nặng. Trong trường hợp dùng nhắc lại, tần suất đưa domperidon cần giảm xuống còn đến 2 lần/ngày tùy thuộc mức độ suy thận. Có thể giảm liều nếu cần.

5.5 Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú

Sử dụng cho phụ nữ có thai: Có ít dữ liệu sau khi đưa thuốc ra thị trường về việc sử dụng domperidon ở phụ nữ có thai. Một nghiên cứu ở chuột cho thấy độc tính trên hệ sinh sản ở liều độc cao ở chuột mẹ. Nguy cơ tiềm tàng ở người chưa được biết đến. Vì vậy, chỉ nên dùng Glomoti-m® trong thai kỳ khi đánh giá và tiên lượng được lợi ích điều trị.

Sử dụng cho phụ nữ đang cho con bú: Domperidon bài tiết qua sữa mẹ và trẻ bú mẹ nhận được ít hơn 0,1% liều theo cân nặng của mẹ. Các tác dụng bất lợi, đặc biệt là tác dụng trên tim mạch vẫn có thể xảy ra sau khi trẻ bú sữa mẹ. Cần cân nhắc lợi ích của việc cho trẻ bú sữa mẹ và lợi ích của việc điều trị cho mẹ để quyết định ngừng cho con bú hay ngừng/ tránh điều trị bằng domperidon. Cần thận trọng trong trường hợp có yếu tố nguy cơ làm kéo dài khoảng QT ở trẻ bú mẹ.

5.6 Tác dụng không mong muốn của thuốc

Các tần suất sau được sử dụng để mô tả sự xuất hiện các tác dụng phụ:

Rất thường gặp (ADR ≥ 1/10); thường gặp (1/100 ≤ ADR < 1/10); ít gặp (1/1.000 ≤ ADR < 1/100); hiếm gặp (1/10.000 ≤ ADR < 1/1.000); rất hiếm gặp (ADR < 1/10.000), nếu tần suất không ước tính từ các thử nghiệm lâm sàng thì được coi là “Chưa rõ”.

Hệ cơ quan

Tần suất phản ứng phụ

Thường gặp Ít gặp Chưa rõ
Rối loạn hệ miễn dịch Phản ứng quá mẫn (bao gồm sốc phản vệ)
Rối loạn tâm thần Mất ham muốn tình dục

Lo âu

Kích động

Căng thẳng

Rối loạn hệ thần kinh Buồn ngủ

Đau đầu

Rối loạn ngoại tháp

Co giật

Rối loạn tim mạch Loạn nhịp thất

Kéo dài khoảng QT

Xoắn đỉnh

Đột tử do tim mạch

Rối loạn về mắt Cơn vận nhãn
Rối loạn hệ tiêu hóa Khô miệng Tiêu chảy
Rối loạn hệ da và mô dưới da Phát ban

Ngứa

Nổi mề đay

Phù mạch

Rối loạn tuyến vú và khả năng sinh sản Tăng tiết sữa

Đau vú

Vú tăng nhạy cảm đau

Vú to ở nam giới

Mất kinh

Rối loạn toàn thân và tại vị trí dùng thuốc Suy nhược
Các chỉ số khác Kết quả bất thường trong kiểm tra chức năng gan

Tăng prolactin máu

Trẻ em

Rối loạn ngoại tháp xảy ra chủ yếu ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.

Các ảnh hưởng khác liên quan đến hệ thần kinh trung ương như co giật, kích động cũng chủ yếu được báo cáo ở trẻ nhỏ và trẻ em.

Báo cáo phản ứng có hại:

Báo cáo phản ứng có hại sau khi thuốc được cấp phép lưu hành rất quan trọng để tiếp tục giám sát cân bằng lợi ích/ nguy cơ của thuốc. Cán bộ y tế cần báo cáo tất cả phản ứng có hại về Trung tâm Quốc gia hoặc Trung tâm khu vực về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc.

Ngưng sử dụng và hỏi ý kiến bác sĩ nếu: có các dấu hiệu mới bất thường xảy ra.

Tài liệu tham khảo

  1. Công văn số 9234/QLD-ĐK ngày 25/05/2015 của Cục trưởng Cục quản lý Dược về việc cập nhật thông tin dược lý đối với thuốc chứa domperidon, thông tin kê toa của thuốc chứa domperidon.
  2. Tờ Hướng dẫn sử dụng thuốc đã được duyệt sửa đổi, bổ sung.
  3. Uptodate 2023. 

CẬP NHẬT HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG THUỐC FEBUXOSTAT

6.1 Febuxostat và điều trị bệnh gút

Febuxostat, với liều 80 mg và 120 mg, được chỉ định để điều trị tăng acid uric máu mạn tính trong các trường hợp đã xảy ra lắng đọng urat (bao gồm tiền sử hoặc hiện tại có hạt tophi hoặc viêm khớp do gout). Febuxostat liều 120 mg được chỉ định để phòng ngừa và điều trị tăng acid uric máu ở người trưởng thành đang hóa trị liệu để điều trị các bệnh lý huyết học ác tính có nguy cơ mắc hội chứng ly giải khối u mức độ trung bình đến nặng. Lời khuyên trong bài viết này liên quan đến điều trị tăng acid uric máu mãn tính (bệnh gút). 

Bệnh gout là một loại viêm khớp gây ra bởi các tinh thể urat monosodium hình thành bên trong và xung quanh khớp, gây ra những cơn đau dữ dội, nóng và sưng đột ngột. Bệnh gút có liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch và tử vong do tim mạch. Các đợt cấp của bệnh có thể xảy ra khi bắt đầu điều trị hạ urat do thay đổi nồng độ acid uric huyết thanh dẫn đến huy động urat từ các mô lắng đọng. Để quản lý các đợt cấp bệnh gout có thể cần sử dụng thuốc chống viêm không steroid, colchicin hoặc corticosteroid đường uống. 

6.2 Cảnh báo liên quan đến bệnh lý bệnh tim mạch

Vào tháng 7 năm 2019, MHRA đã khuyến cáo các nhân viên y tế tránh điều trị bằng febuxostat ở  bệnh nhân mắc bệnh lý tim mạch nghiêm trọng (ví dụ: nhồi máu cơ tim, đột quỵ hoặc đau thắt ngực không ổn định), trừ khi không có lựa chọn điều trị khác phù hợp. Khuyến cáo được đưa ra sau khi xem xét các phát hiện từ một thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 4 (nghiên cứu CARES1) ở các bệnh nhân mắc bệnh gout và có tiền sử bệnh tim mạch nặng. Nghiên cứu CARES cho thấy nguy cơ tử vong liên quan đến tim mạch và tử vong do mọi nguyên nhân ở bệnh nhân được chỉ định sử dụng febuxostat cao hơn so với những bệnh nhân được chỉ định sử dụng allopurinol.

 Một thử nghiệm khác, nghiên cứu FAST, đã kết luận về tính an toàn đối với tim mạch của febuxostat. Nghiên cứu FAST được thực hiện trên các bệnh nhân tại Anh, Đan Mạch và Thụy Điển có ít nhất một yếu tố nguy cơ tim mạch và đã được điều trị bằng allopurinol trong thời gian trung bình 6 năm; ngoài ra, nồng độ urat trong huyết thanh được kiểm soát bằng allopurinol được tối ưu hóa theo liều trước khi ngẫu nhiên hóa. Nghiên cứu FAST đã kết luận rằng febuxostat không thua kém liệu pháp allopurinol về tiêu chí đánh giá chính liên quan tới tim mạch, và không giống như kết quả nghiên cứu CARES, việc sử dụng lâu dài không liên quan đến việc tăng nguy cơ tử vong hoặc tử vong do tim mạch so với allopurinol. 

 Sau khi xem xét kết quả nghiên cứu FAST và lời khuyên từ Nhóm chuyên gia tư vấn cảnh giác dược của Ủy ban về sử dụng thuốc cho người (Pharmacovigilance Expert Advisory Group of the Commission on Human Medicines) của Châu Âu, thông tin sản phẩm cho febuxostat đã được cập nhật để bao gồm các kết quả của nghiên cứu trên. Thông tin sản phẩm vẫn giữ nguyên cảnh báo về các rối loạn tim mạch và hiện khuyến cáo nên thận trọng khi điều trị bằng febuxostat ở bệnh nhân mắc các bệnh tim mạch nghiêm trọng. 

 Đặc biệt, nên thận trọng khi sử dụng thuốc ở bệnh nhân mắc các bệnh tim mạch nghiêm trọng có nồng độ tinh thể urat cao và có hạt tophi hoặc những người bắt đầu điều trị hạ urat. Các bác sĩ kê đơn nên điều chỉnh liều febuxostat một cách thích hợp để giảm thiểu các đợt cấp bệnh gout sau khi bắt đầu điều trị, do đó giảm thiểu tình trạng viêm thêm. 

Chúng tôi cũng lưu ý rằng các hướng dẫn lâm sàng về bệnh gút (ví dụ, hướng dẫn NICE 219 – Bệnh gút: chẩn đoán và điều trị đã được cập nhật kể từ thời điểm công bố nghiên cứu FAST), nêu rõ rằng allopurinol nên được sử dụng như biện pháp điều trị đầu tay cho bệnh nhân mắc bệnh gout kèm theo bệnh tim mạch nghiêm trọng (ví dụ, nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ trước đó, hoặc đau thắt ngực không ổn định).

6.3 Khuyến cáo được cập nhật:

– Nên thận trọng khi sử dụng liệu pháp febuxostat ở bệnh nhân có tiền sử mắc các bệnh tim mạch nghiêm trọng, đặc biệt với người có nồng độ tinh thể urat cao và có hạt tophi hoặc người bắt đầu điều trị hạ urat 

– Sau khi bắt đầu sử dụng febuxostat, người kê đơn nên điều chỉnh liều febuxostat để giảm thiểu các cơn bùng phát và viêm nhiễm do gout

– Lưu ý: các hướng dẫn lâm sàng về bệnh gout (ví dụ, hướng dẫn NICE 219 – Bệnh gout: chẩn đoán và điều trị) khuyến cáo rằng nên sử dụng allopurinol như phương pháp điều trị đầu tay cho những người mắc bệnh gout kèm bệnh tim mạch nghiêm trọng. 

6.4 Kết quả nghiên cứu chi tiết

6.4.1 Nghiên cứu CARES

Bạn có thể tìm thêm thông tin về thiết kế và kết quả của nghiên cứu CARES trong Bản cập nhật về an toàn thuốc ban hành tháng 7 năm 2019 (Drug Safety Update issued July 2019) và trong các kết quả đã công bố [1]. Tóm lại, nghiên cứu CARES là một thử nghiệm không thua kém, mù đôi, ngẫu nhiên, giai đoạn 4 trong đó các bệnh nhân mắc bệnh gout và có tiền sử bệnh tim mạch nghiêm trọng là bệnh nhân tại Hoa Kỳ, Canada và Mexico. Tổng cộng có 6.190 bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên để sử dụng febuxostat hoặc allopurinol và được theo dõi trong thời gian trung bình là 32 tháng. 

Các biến cố tim mạch bất lợi nghiêm trọng chính (MACE) xảy ra với tỷ lệ tương đương ở nhóm điều trị bằng febuxostat và allopurinol (tương ứng là 10,8% so với 10,4% bệnh nhân; tỉ số rủi ro (HR) 1,03, khoảng tin cậy (CI) 95% 0,87 đến 1,23). Trong phân tích thứ cấp, tỷ lệ tử vong do tim mạch ở nhóm dùng febuxostat cao hơn so với nhóm dùng allopurinol (tương ứng là 4,3% so với 3,2%; HR 1,34, CI95% từ 1,03 đến 1,73). Tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân cũng cao hơn ở bệnh nhân được chỉ định dùng febuxostat so với những bệnh nhân được chỉ định dùng allopurinol (tương ứng là 7,8% so với 6,4%; HR 1,22, CI 95% 1,01 đến 1,47), chủ yếu là do tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch cao hơn ở nhóm febuxostat.  

6.4.2 Nghiên cứu FAST

Nghiên cứu FAST là một thử nghiệm không thua kém, làm mù người phân tích, nhãn mở, ngẫu nhiên, tiến cứu nhằm đánh giá nguy cơ biến cố tim mạch của febuxostat so với allopurinol ở 6128 bệnh nhân gout ở Anh, Đan Mạch và Thụy Điển có ít nhất một yếu tố nguy cơ mắc bệnh lý tim mạch [2].

 Bệnh nhân đã được điều trị hạ urat bằng allopurinol trong thời gian trung bình là 6 năm. Trước khi phân nhóm ngẫu nhiên, bệnh nhân đã nhận được liều allopurinol tối ưu để giảm nồng độ urat xuống mức mục tiêu của Liên minh Hiệp hội Thấp khớp Châu Âu (EULAR) là dưới 0,357 mmol/L (dưới 6 mg/dL).

 Kết quả nghiên cứu FAST cho thấy febuxostat không thua kém liệu pháp allopurinol về tiêu chí đánh giá chính liên quan tới tim mạch (kết hợp tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim không gây tử vong hoặc hội chứng mạch vành cấp dương tính với dấu ấn sinh học; đột quỵ không gây tử vong; hoặc tử vong do tim mạch), với tỷ lệ mắc bệnh khi điều trị là 5,6% của febuxostat so với 7,9% của allopurinol (HR 0,85, CI 95% từ 0,70 đến 1,03, p<0,0001, không thua kém). Các tiêu chí phụ khi so febuxostat với điều trị bằng allopurinol bao gồm tử vong do tim mạch lần lượt là 2% so với 2,7%, HR 0,91 (0,66–1,27) và tất cả các nguyên nhân tử vong tương ứng là 3,5% so với 5,7%, HR 0,75 (0,59–0,95) p<0,0001, không thua kém [2].

 Có sự khác biệt giữa các quần thể ở phác đồ nghiên cứu FAST và CARES, cần được xem xét khi so sánh và đối chiếu kết quả của các thử nghiệm này, bao gồm: 

– Bệnh nhân được điều trị bằng febuxostat ở nhóm FAST lớn tuổi hơn so với nhóm CARES (tuổi trung bình 71 tuổi (độ lệch chuẩn [SD] 6,4) so với tuổi trung bình 64 tuổi (khoảng tứ phân vị [IQR] lần lượt là 58 đến 71 tuổi) 

– 33,4% bệnh nhân trong FAST có tiền sử bệnh tim mạch so với 100% bệnh nhân trong CARES 

– Không có bệnh nhân nào trong FAST bắt đầu điều trị hạ urat so với 33,7% bệnh nhân trong nghiên cứu CARES 

– Bệnh nhân trong nghiên cứu FAST tại thời điểm ban đầu ngay trước khi phân nhóm ngẫu nhiên có nồng độ urat huyết thanh trung bình là 5mg/dL (0,297 mmol/L) so với 8,7mg/dL (0,517 mmol/L) trong nghiên cứu CARES 

– Tại thời điểm ban đầu, nghiên cứu FAST có ít bệnh nhân có hạt tophi hơn so với CARES (9,8% so với 21,6% tương ứng ở bệnh nhân điều trị bằng febuxostat). 

Do đó, nên thận trọng khi điều trị bằng febuxostat đối với tình trạng tăng acid uric máu mãn tính ở bệnh nhân có tiền sử mắc các bệnh tim mạch nghiêm trọng, đặc biệt thận trọng ở bệnh nhân có nồng độ tinh thể urat cao và có hạt tophi hoặc bệnh nhân bắt đầu điều trị hạ urat. 

Tài liệu tham khảo 

  1. White WB and others. Cardiovascular safety of febuxostat or allopurinol in patients with gout. New England Journal of Medicine 2018: volume 378, pages 1200 to 1210.  
  2. Mackenzie IS and others. Long-term cardiovascular safety of febuxostat compared with allopurinol in patients with gout (FAST): a multicentre, prospective, randomised, open-label, non-inferiority trial. Lancet 2020: volume 396: pages 1745 to 1757.  
  3. https://www.gov.uk/drug-safety-update/febuxostat-updated-advice-for-the-treatment-of-patients-with-a-history-of-major-cardiovascular-disease

Tải tài liệu 

[Nguồn: BV YHCT]

Đối tác