Thứ Tư, ngày 27 tháng 05 năm 2026. Chào mừng đến cổng thông tin điện tử Bệnh viện Y học cổ truyền Thành phố Hồ Chí Minh.

Dành cho nhân viên y tế

Sử dụng thuốc an toàn và hợp lý (Số 02 – 2024)

KHÁNG SINH ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI MẮC PHẢI CỘNG ĐỒNG

Viêm phổi mắc phải cộng đồng (VPMPCĐ) là tình trạng nhiễm trùng của nhu mô phổi xảy ra ở cộng đồng, bên ngoài bệnh viện, bao gồm viêm phế nang, ống và túi phế nang, tiểu phế quản tận hoặc viêm tổ chức kẽ của phổi. Bệnh thường do vi khuẩn, virus, nấm và một số tác nhân khác, nhưng không do trực khuẩn lao.1

Mục tiêu điều trị1

  • Đạt hiệu quả lâm sàng
  • Giảm tử vong
  • Tránh kháng thuốc

Nguyên tắc điều trị kháng sinh1

  • Cần điều trị kháng sinh sớm trong 4 giờ đầu nhập viện dựa theo kinh nghiệm, khi có kết quả nuôi cấy và kháng sinh đồ cần điều chỉnh theo kháng sinh đồ và đáp ứng lâm sàng của bệnh nhân. Tránh dùng kháng sinh phổ rộng nếu không cần thiết.
  • Sử dụng kháng sinh theo dược lực học và dược động học, hiệu chỉnh liều theo mức lọc cầu thận.
  • Lấy bệnh phẩm trước khi điều trị kháng sinh ở bệnh nhân nhập viện
  • Bệnh nhân nhập viện nên bắt đầu với kháng sinh đường truyền tĩnh mạch, đủ liều. Sau vài ngày có thể chuyển sang đường uống nếu có đáp ứng lâm sàng.
  • Thời gian điều trị tùy theo bệnh cảnh lâm sàng và X – quang. Thời gian điều trị kháng sinh trung bình từ 7-10 ngày đối với VPMPCĐ không biến chứng.
  • Đánh giá điều trị sau 48-72 giờ, nếu tình trạng lâm sàng không cải thiện hoặc xấu hơn cần thay đổi phác đồ.
  • Chuyển sang đường uống khi bệnh nhân cải thiện ho, khó thở, hết sốt 2 lần cách nhau 8 giờ và bệnh nhân uống được.
  • Xuất viện: khi ổn định lâm sàng và chuyển sang kháng sinh uống cho đủ liệu trình.

Đánh giá phân tầng bệnh nhân trước điều trị

Trước khi điều trị, bệnh nhân mắc bệnh viêm phổi cần được đánh giá và phân tầng mức độ nặng để xác định bệnh nhân cần điều trị ngoại trú, nội trú, hay cần nhập ICU. Bệnh nhân được đánh giá dựa trên hai thang điểm PSI hoặc CURB-65. 1

Thang điểm PSI (Pneumonia severity index) 1,2

Picture1 22

Điểm

Nhóm Tiên lượng tử vong 30 ngày

Nơi điều trị

< 70 điểm Nhóm I & II < 1% Ngoại trú
Từ 71-90 điểm Nhóm III 2,8% Nội trú ngắn hạn
Từ 91-130 điểm Nhóm IV 8,2% – 9,3% Nội trú
> 130 điểm Nhóm V 27%-31,3% ICU
Thang điểm CURB-65 1,2
Picture1 23

Bệnh nhân VPMPCĐ mức độ nhẹ, ngoại trú, < 65 tuổi, không có bệnh đi kèm, không dùng kháng sinh trong 3 tháng trước1,3

Amoxicillin 1g x 3 lần/ngày

Doxycyclin 100 mg x 2 lần/ngày

Macrolid: Azithromycin 500 mg ngày đầu, sau đó 250 mg ở những ngày tiếp theo hoặc Clarithromycin 500 mg x 2 lần/ngày hoặc Clarithromycin phóng thích chậm 1 g x 1 lần/ngày.

Nhóm bệnh nhân này hạn chế dùng quinolon ngoại trừ dị ứng với betalactam hay macrolid.

Bệnh nhân VPMPCĐ mức độ nhẹ, ngoại trú, > 65 tuổi, có bệnh đồng mắc (bệnh tim, phổi, bệnh gan, thận mạn tính, đái tháo đường, nghiện rượu, ung thư), suy giảm miễn dịch, đã dùng kháng sinh 3 tháng trước hoặc nguy cơ S. pneumoniae kháng thuốc 1,3
Phối hợp giữa 2 thuốc sau:

1.  Amoxicillin/clavulanate 500 mg/125 mg x 3 lần/ngày hoặc Amoxicillin/clavulanate 875 mg/125 mg x 2 lần/ngày hoặc Amoxicillin/clavulanate 2000 mg/125 mg x 2 lần/ngày hoặc

Cefpodoxime 200 mg x 2 lần/ngày hoặc

Cefuroxim 500 mg x 2 lần/ngày

2.  Macrolid: azithromycin 500 mg ngày đầu, sau đó 250 mg ở những ngày tiếp theo hoặc Clarithromycin 500 mg x 2 lần/ngày hoặc Clarithromycin phóng thích chậm 1 g x 1 lần/ngày

Hoặc doxycyclin 100 mg x 2 lần/ngày

Floroquinolon hô hấp đơn trị liệu: levofloxacin 750 mg x 1 lần/ngày hoặc levofloxacin 500 mg x 2 lần/ngày hoặc moxifloxacin 400 mg x 1 lần/ngày

Bệnh nhân VPMPCĐ nội trú, mức độ trung bình, nằm tại khoa nội/hô hấp/truyền nhiễm 1
Betalactam +/- ức chế betalactamase (tham khảo: ampicillin + sulbactam 1,5-3g mỗi 6 giờ, hoặc cefotaxim 1-2g mỗi 8 giờ, hoặc ceftriaxon 1-2 g x 1 lần/ngày3) + Macrolid (azithromycin 500 mg x 1 lần/ngày hoặc clarithromycin 500 mg x 2 lần/ngày) (tiêm tĩnh mạch)

Betalactam +/- ức chế betalactamase (tham khảo: ampicillin + sulbactam 1,5-3g mỗi 6 giờ, hoặc cefotaxim 1-2g mỗi 8 giờ, hoặc ceftriaxon 1-2 g x 1 lần/ngày3)  + Floroquinolon hô hấp (levofloxacin 750 mg x 1 lần/ngày hoặc moxifloxacin 400 mg x 1 lần/ngày) (tiêm tĩnh mạch)

Nếu bệnh nhân chống chỉ định với cả macrolid và floroquinolon thì phối hợp giữa 2 thuốc sau: 3

1.  β-lactam: ampicillin + sulbactam 1,5-3g mỗi 6 giờ, hoặc cefotaxim 1-2 g mỗi 8 giờ hoặc ceftriaxon 1-2 g x 1 lần/ngày.

2.  Doxycyclin 100 mg x 2 lần/ngày

Bệnh nhân VPMPCĐ nội trú, mức độ nặng, nằm ICU1

Hết sức lưu ý nguy cơ nhiễm S. aureusP. aeruginosae.

Carbapenem thế hệ 1 (không bao phủ Pseudomonas) hoặc thế hệ 2 + Floroquinolon hoặc macrolid +/- thuốc bao phủ S. aureus nếu chưa loại trừ (vancomycin/teicoplanin/linezolid)

Khi nghi ngờ nhiễm Pseudomonas:

1.    1 Betalactam +/- ức chế betalactamase chống Pseudomonas [piperacillin/tazobactam (4,5 g mỗi 6 giờ), ceftazidim (2 g mỗi 8 giờ), cefepim (2 g mỗi 8 giờ), imipenem (500 mg mỗi 6 giờ), meropenem (1 g mỗi 8 giờ), doripenem] + ciprofloxacin hoặc levofloxacin.

2.    1 β-lactam kể trên + 1 aminoglycosid và azithromycin/clarithromycin

Yếu tố nguy cơ nhiễm các tác nhân viêm phổi1

Tác nhân

Yếu tố nguy cơ

Streptoccocus pneumoniae Dưới 2 tuổi, hoặc trên 65 tuổi.

Giới nam

Nghiện rượu, hút thuốc lá

Bệnh gan mạn, bệnh thận mạn, suy tim ứ huyết, suy dinh dưỡng, bệnh tâm thần, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, suy giảm miễn dịch, nhiễm HIV, ghép tạng

Haemophilus influenzae Bệnh phổi mạn tính

Bệnh ác tính

Nhiễm HIV

Nghiện rượu

Hút thuốc lá

Staphylococcus aureus Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, ung thư phổi, bệnh xơ nang

Bệnh nội khoa mạn tính: đái tháo đường, suy thận

Nhiễm virus: Influenza, sởi

Klebsiella pneumonia Điều trị tại Khoa điều trị tích cực, đặt nội khí quản.

Nguy cơ hít sặc dịch từ đường tiêu hóa: tai biến mạch não, động kinh, gây mê

Nghiện rượu

Bệnh phổi mạn tính, đái tháo đường

Sử dụng kháng sinh trước đó

Pseudomonas aeruginosae Bệnh phổi cấu trúc như bệnh xơ nang, giãn phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nặng (FEV1 < 30%)

Điều trị kháng sinh thường xuyên trước đó đặc biệt là kháng sinh phổ rộng

Vi khuẩn kỵ khí Bệnh phổi: ung thư phổi, giãn phế quản, nhồi máu phổi, viêm phổi hít. Nhiễm khuẩn kỵ khí vùng hầu họng.

Nguyên tắc chuyển đổi kháng sinh đường tĩnh mạch sang đường uống1

Bệnh nhân VPMPCĐ điều trị nội trú có thể chuyển đổi kháng sinh đường tĩnh mạch sang các kháng sinh đường uống tương đương sau khi có cải thiện về mặt lâm sàng hoặc cắt sốt. Chuyển đổi đường tĩnh mạch sang đường uống giúp gồm giảm chi phí điều trị, giảm thời gian nằm viện, giảm các tai biến liên quan đến việc sử dụng thuốc qua đường tĩnh mạch và dễ sử dụng hơn cho bệnh nhân. Các điều kiện lâm sàng của bệnh nhân cho phép chuyển đổi từ đường tĩnh mạch sang đường uống bao gồm:

  • Nhiệt độ ≤ 37,8oC
  • Nhịp tim ≤ 100 lần/phút
  • Nhịp thở ≤ 24 lần/phút
  • Huyết áp tâm thu ≥ 90 mmHg
  • Bão hòa oxy máu động mạch (SaO2) ≥ 90 hoặc PO2 ≥ 60 mmHg ở điều kiện khí phòng
  • Có khả năng ăn uống
  • Sức khỏe tâm thần bình thường

Hướng dẫn chuyển đổi đường tiêm/đường uống với một số kháng sinh1

Kháng sinh tĩnh mạch Kháng sinh đường uống
Ceftriaxon 1-2 g mỗi 25 giờ Ciprofloxacin 500 – 750 mg mỗi 12 giờ hoặc amoxicillin/acid clavulanic 875/125 mg mỗi 12 giờ
Levofloxacin 500 mg mỗi 12 giờ hoặc 750 mg mỗi 24 giờ Levofloxacin 500 mg mỗi 12 giờ hoặc 750 mg mỗi 24 giờ

Tài liệu tham khảo 

  1. Bộ Y tế. Quyết định số 4815/QĐ-BYT. Quyết định về việc ban hành “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị viêm phổi mắc phải cộng đồng ở người lớn”. 2020.
  2. Hội hô hấp Tp. Hồ Chí Minh. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị viêm phổi cộng đồng của ATS-IDSA và Bộ y tế Việt Nam 2022. Đăng 10/5/2022. https://www.hoihohaptphcm.org/index.php/component/content/article/48-limit/709-huong-dan-chan-doan-va-dieu-tri-viem-phoi-cong-dong-cua-ats-idsa-va-bo-y-te-viet-nam-20220?Itemid=101
  3. Joshua P. Metlay, Grant W. Waterer, Ann C. Long. Diagnosis and Treatment of Adults with Community-acquired Pneumonia. American Journal of Respiratory and Critical Care Medicine. Vol 200. Iss 7. Pp e45-e67. Oct 2019.

Tác giả: DS. Lê Thị Hồng Hà, Ths. DS. Nguyễn Kim Ngân 

CẢNH BÁO AN TOÀN KHI SỬ DỤNG PARACETAMOL

Đau là một triệu chứng lâm sàng thường gặp trên nhiều bệnh lý khác nhau. Việc điều trị đau giúp gia tăng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và tăng tuân thủ điều trị. Vì vậy, giảm đau cho bệnh nhân đóng vai trò quan trọng trong công tác điều trị.

Trong các thuốc giảm đau, paracetamol là thuốc cơ bản trong điều trị các cơn đau từ nhẹ đến trung bình cũng như trong các trường hợp hạ sốt. Paracetamol hiện được coi là thuốc giảm đau cơ sở, được sử dụng ưu tiên cho cả người lớn và trẻ em.4 Thuốc có chứa paracetamol được bán không cần đơn. Bệnh nhân có thể tự mua thuốc, dùng để giảm đau mức độ nhẹ hàng ngày (đau đầu, đau trong chu kỳ kinh nguyệt, đau khớp hoặc đau cơ). Tuy paracetamol được dùng phổ biến rộng rãi, nhưng bệnh nhân và các nhân viên y tế cũng nên lưu ý đến phản ứng có hại của thuốc và cần thận trọng khi sử dụng. Đã có một số trường hợp sử dụng paracetamol không hợp lý và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Ví dụ tại Pháp, lạm dụng paracetamol là nguyên nhân hàng đầu cho can thiệp ghép gan có nguồn gốc do thuốc.5 Tại Việt Nam, đã xảy ra một số trường hợp phải nhập viện điều trị và suy gan cấp tính do ngộ paracetamol.6,7 Vì vậy, sử dụng paracetamol an toàn, hợp lý là rất quan trọng.

1. Nguy cơ khi sử dụng quá liều paracetamol

Với bệnh nhân có nguy cơ cao, nguy cơ gặp độc tính trên gan khi sử dụng paracetamol có thể xảy ra ở liều điều trị bình thường. Các bác sỹ cần lưu ý các yếu tố nguy cơ mới xuất hiện trong quá trình điều trị với paracetamol.8

Bệnh nhân có nguy cơ cao gặp độc tính trên gan khi sử dụng paracetamol gồm: nhẹ cân, chỉ số khối cơ thể (BMI) thấp, suy dinh dưỡng, mất nước, người cao tuổi, nghiện rượu mạn tính hoặc có tình trạng suy gan hoặc suy thận, bệnh nhân có bệnh lý gây thiếu hụt hoặc cạn kiệt glutathion hoặc đang sử dụng các thuốc có độc tính trên gan, bệnh nhân dùng các thuốc có khả năng gây tăng men gan. 4,5,8

Các bác sỹ cần lưu ý các yếu tố nguy cơ mới xuất hiện hoặc thay đổi (ví dụ: suy dinh dưỡng, giảm cân, mất nước) và theo dõi quá trình điều trị để hiệu chỉnh liều nếu cần thiết khi kê đơn paracetamol. Đối với bệnh nhân có nguy cơ cao gặp độc tính trên gan, cân nhắc giảm liều khởi đầu, giảm liều dùng và/hoặc giảm tần suất sử dụng.4,8

Ngoài ra, nhiều chế phẩm hiện nay có chứa paracetamol, vì vậy cần lưu ý khi sử dụng đồng thời có thể dẫn đến quá liều và gây ra tổn thương gan nghiêm trọng.5

Một tương tác thường được nhấn mạnh khi sử dụng là tương tác giữa paracetamol với thuốc chống đông đường uống làm tăng tác dụng của các thuốc chống đông đường uống và tăng nguy cơ chảy máu khi dùng paracetamol với liều tối đa (4 g/ngày) trong ít nhất 4 ngày. Trong trường hợp này, cần theo dõi điều trị chống đông (kiểm soát INR) và có thể điều chỉnh liều khi cần thiết.5

2. Nguy cơ có thể gặp khi kê đơn paracetamol cho trẻ em9,10

Medsafe đã thông báo về các trường hợp tác dụng phụ nghiêm trọng liên quan đến lỗi kê đơn, cấp phát và sử dụng thuốc paracetamol với trẻ em. Ủy ban Phản ứng có hại của Thuốc (MARC) đã thảo luận về báo cáo suy gan cấp ở một trẻ em bị nghi ngờ dùng quá liều paracetamol. Các trường hợp nghiêm trọng mô tả các tác dụng phụ liên quan đến liều dùng paracetamol ở trẻ em, bao gồm suy gan cấp, đã được báo cáo tại New Zealand. Cụ thể, một báo cáo trường hợp mô tả một trẻ nhỏ được kê đơn quá liều paracetamol (34,5 mg/kg/liều). Kết quả là, trẻ bị suy gan cấp. Một báo cáo trường hợp khác mô tả một trẻ nhỏ được kê đơn không đúng liều lượng bằng một thìa canh. Trẻ cũng bị suy gan cấp do dùng quá liều.

Sau khi xem xét các trường hợp, khuyến nghị một số biện pháp các nhân viên y tế có thể thực hiện để tránh những lỗi này:

  • Chỉ sử dụng paracetamol cho các chỉ định được chấp thuận (ví dụ: đau và/hoặc sốt).
  • Sử dụng liều lượng dựa trên cân nặng thực tế, không phải cân nặng lý tưởng.
  • Không bao giờ kê đơn cho trẻ em vượt quá liều khuyến cáo cho người lớn.
  • Kê đơn chính xác liều sử dụng: Chỉ định chính xác liều lượng, nồng độ thuốc dạng lỏng paracetamol (ví dụ: 120 mg/5mL hoặc 250 mg/5mL), thể tích mL cần dùng và liều tối đa hàng ngày trên đơn thuốc. Việc ghi cân nặng hiện tại của trẻ vào đơn thuốc giúp cung cấp thông tin để kiểm tra chéo khi cấp phát.
  • Cấp phát cẩn thận: Kiểm tra xem liều lượng được kê đơn có phù hợp/an toàn không, đã chọn đúng nồng độ thuốc dạng lỏng paracetamol (120 mg/5mL hoặc 250 mg/5mL) để cấp phát chưa và đảm bảo hướng dẫn về liều lượng được ghi rõ ràng trên nhãn thuốc.
  • Đảm bảo rằng người chăm sóc có thể tiếp cận một thiết bị đo lường phù hợp để dùng liều lượng được kê đơn và họ biết cách đo liều lượng chính xác.
  • Cảnh báo người chăm sóc rằng có những nguy cơ tiềm ẩn liên quan đến việc sử dụng paracetamol ở trẻ em.
  • Đảm bảo rằng người chăm sóc biết khoảng cách dùng thuốc và số liều tối đa mỗi ngày.
  • Đảm bảo rằng đối với những gia đình có nhiều hơn một trẻ, người chăm sóc biết về các liều lượng khác nhau cần thiết cho từng trẻ và có hai loại paracetamol dạng lỏng có nồng độ khác nhau (120 mg/5mL và 250 mg/5mL).
  • Khuyên người chăm sóc tìm kiếm lời khuyên y tế nếu họ không chắc chắn về liều lượng hoặc nếu họ nghĩ rằng họ đã mắc lỗi.
  • Khuyên người chăm sóc để tất cả các loại thuốc, bao gồm cả paracetamol dạng lỏng, xa tầm với và tầm nhìn của trẻ em.
  • Khuyên người chăm sóc lắc chai trước khi cho trẻ dùng paracetamol dạng lỏng.

3. Sử dụng Paracetamol an toàn, hợp lý4

Những điều cần chú ý

+ Sử dụng liều thấp nhất có hiệu quả, nếu cần thiết thì tăng liều từ từ; phải thường xuyên đánh giá hiệu quả và an toàn của việc điều trị, đặc biệt là trong trường hợp điều trị bệnh mạn tính.

+ Điều chỉnh khoảng đưa liều theo thời gian tác dụng của thuốc và tiến triển trong ngày của cơn đau.

+ Tránh dùng dạng giải phóng kéo dài

Mức liều nào có thể gây tình trạng ngộ độc paracetamol?

Quá liều: từ 10 g với liều duy nhất ở người lớn và 150 mg/kg khối lượng cơ thể trong một liều duy nhất ở trẻ em (tùy theo khả năng nhạy cảm của bệnh nhân) có thể dẫn đến tăng men gan.

Tuy nhiên, paracetamol có thể gây tổn thương gan ngay cả ở liều điều trị nếu sử dụng trong thời gian dài, đặc biệt trên những bệnh nhân có chức năng gan thay đổi hoặc người cao tuổi.

Paracetamol có mặt trong nhiều loại thuốc, kết hợp dưới nhiều dạng bào chế khác nhau, dẫn đến nguy cơ quá liều không chủ đích khi dùng đồng thời nhiều chế phẩm cùng chứa hoạt chất này. Cần đọc kỹ thành phần của thuốc trước khi uống để tránh gây quá liều.

Các biện pháp cần làm khi quá liều

Cần chuyển ngay bệnh nhân đến bệnh viện để điều trị càng sớm càng tốt, có thể sử dụng các thuốc giải độc đặc hiệu của paracetamol như N-acetylcystein tĩnh mạch hoặc đường uống, nếu có thể trước giờ thứ mười. Cũng cần tiến hành nhanh chóng các biện pháp điều trị triệu chứng.

Tài liệu tham khảo 

  1. Trung tâm DI & ADR quốc gia. Bản tin cảnh giác dược. Sử dụng hợp lý các thuốc giảm đau. 2015. Số 3: 1-8.
  2. Trung tâm DI & ADR quốc gia. Sử dụng hợp lý các thuốc giảm đau thông dụng. 07/03/2019. http://canhgiacduoc.org.vn/CanhGiacDuoc/DiemTin/1284/S%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-h%E1%BB%A3p-l%C3%BD-c%C3%A1c-thu%E1%BB%91c-gi%E1%BA%A3m-%C4%91au-th%C3%B4ng-d%E1%BB%A5ng.htm
  1. Cảnh báo nguy cơ ngộ độc khi lạm dụng thuốc giảm đau, hạ sốt tại nhà. VTVonline. 07/03/2023.https://vtv.vn/suc-khoe/canh-bao-nguy-co-ngo-doc-khi-lam-dung-thuoc-giam-dau-ha-sot-tai-nha-20230307140354201.htm
  2. Ngộ độc sau uống 9 viên paracetamol hạ sốt. Vnexpress. 13/8/2024. https://vnexpress.net/ngo-doc-sau-uong-9-vien-paracetamol-ha-sot-4780981.html
  3. WHO Pharmaceutical newsletter. No 3. p11. 2024.
  4. WHO Pharmaceutical newsletter. No 5. p13. 2019.
  5. New Zealand Medicines and Medical devices safety Authority. Paracetamol – Dangerous when not used correctly. Prescriber Update. 2019; 40(3): 46-47. Sep 5 2019.
  6. https://www.medsafe.govt.nz/profs/PUArticles/September2019/Paracetamol-dangerous-when-not-used-correctly.htm

Tác giả: DS. Lê Thị Hồng Hà, Ths. DS. Nguyễn Kim Ngân 

HẠN CHẾ LẠM DỤNG THUỐC ỨC CHẾ BƠM PROTON (PPI)

VÀ CÂN NHẮC XUỐNG THANG KÊ ĐƠN PPI

Thuốc ức chế bơm proton (PPI) có vai trò hàng đầu trong điều trị các bệnh đường tiêu hóa trên do axit, như bệnh loét dạ dày tá tràng và bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD). PPI có hiệu quả ức chế axit dạ dày tốt hơn thuốc chẹn H2.[11,13

Anh chup Man hinh 2025 02 08 luc 20.04.29

Thực trạng lạm dụng quá mức PPIs

Từ năm 2013 đến 2018, Omeprazol trở thành thuốc được kê đơn phổ biến thứ ba tại New Zealand. Số bệnh nhân được kê đơn PPI tăng đều đặn trong 5 năm. Trong năm 2013, các cơ sở y tế ở New Zealand đã chi 4,28 triệu đô la cho riêng omeprazol, trong đó, hơn 1/4 chi phí dành cho omeprazol 40 mg, dạng bào chế có hàm lượng cao nhất có sẵn trên thị trường của hoạt chất này.[16,17]

Tại Canada, pantoprazole là loại thuốc được kê đơn phổ biến thứ năm, với hơn 11 triệu đơn thuốc được cấp vào năm 2012 và hơn 33 triệu đơn thuốc được kê vào năm 2016..[18,19] Các chỉ định phổ biến nhất như bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD) cần điều trị ngắn hạn (tức là từ 4 đến 8 tuần), tuy nhiên, lại được sử dụng trong thời gian dài. Các nghiên cứu cho thấy thiếu chỉ định liên tục được ghi nhận đối với từ 40% đến 65% bệnh nhân nhập viện tại Hoa Kỳ và Úc và từ 40% đến 55% bệnh nhân chăm sóc chính tại Hoa Kỳ và Anh.[19]

Vào năm 2019, hơn 16 triệu người Pháp (khoảng 1/4 dân số) sử dụng PPI. Trong đó, hơn một nửa số trường hợp sử dụng thuốc không có chỉ định. PPI thường được kê đơn một cách rập khuôn hoặc trong thời gian quá dài. Các nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng một số lượng đáng kể sử dụng PPI trong cả bệnh nhân nội trú và ngoại trú thường không phù hợp và làm tăng chi phí chăm sóc sức khỏe, đồng thời góp phần gây ra các tác dụng phụ lâu dài. Cụ thể, một nghiên cứu từ Hoa Kỳ cho thấy 69% việc sử dụng PPI không có chỉ định rõ ràng khi xuất viện và tổng chi phí trong 30 ngày đầu sau khi xuất viện là 3.013.069 đô la.[20] Một nghiên cứu khác cho thấy khoảng 70% việc sử dụng PPI không có chỉ định hợp lý theo hướng dẫn của Viện Y tế và Chăm sóc Sức khỏe Quốc gia (NICE).[21]

Những biến cố bất lợi

Sử dụng PPI dài hạn có liên quan đến một số mối quan ngại về an toàn. Bệnh viêm phổi cộng đồng và tiêu chảy do Clostridium difficile (CDAD) nằm trong số các tác dụng phụ ngắn hạn.[16,22,23] Trong khi đó, nhiễm trùng, suy giảm hấp thu chất dinh dưỡng, chứng mất trí, bệnh thận và các tác dụng phụ liên quan đến tăng gastrin máu làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày đang nổi lên như những hậu quả có thể xảy ra khi sử dụng lâu dài PPI.[22]

Nhiễm trùng đường tiêu hóa

Các bệnh nhiễm trùng đường ruột bao gồm bệnh thương hàn, bệnh campylobacteriosis, viêm đại tràng vi thể, tăng gastrin máu, viêm teo niêm mạc dạ dày, nhiễm khuẩn đường ruột do vi khuẩn kháng nhiều loại thuốc và viêm ruột là những tác dụng phụ có liên quan đến việc sử dụng PPI đã được báo cáo.[15]

Sự kém hấp thu vitamin và khoáng chất

PPI có thể gây ra tình trạng hạ magiê máu do giảm hấp thu ở ruột. Một phân tích tổng hợp của 9 nghiên cứu quan sát bao gồm tổng cộng 109.798 bệnh nhân cho thấy những người dùng PPI có nguy cơ mắc chứng hạ magiê máu cao hơn đáng kể so với những người không dùng.[12,22] Năm 2011, FDA đã đưa ra thông báo với công chúng về nguy cơ tiềm ẩn gây giảm nồng độ magie trong huyết thanh do dùng PPI trong thời gian dài (≥1 năm) và thêm vào phần cảnh báo và thận trọng trên nhãn của tất cả các loại PPI theo toa. Ngoài ra, việc sử dụng PPI dài hạn cũng làm giảm sự hấp thu vitamin B12 và sắt.[24]

Nguy cơ gãy xương

Tác dụng giảm acid dạ dày của PPI có thể làm giảm sự hấp thu canxi không hòa tan, đồng thời làm tăng hoạt động của tế bào hủy xương dẫn đến sự giảm mật độ xương.[11,12,14] Năm 2011, FDA đã cập nhật nguy cơ loãng xương và gãy xương do PPI vào thông tin an toàn nhãn thuốc này. FDA đã đưa ra khuyến nghị đến người bệnh và các chuyên gia sức khỏe về việc thận trọng khi sử dụng thuốc ức chế bơm proton liều cao và/ hoặc trong thời gian dài, đặc biệt ở đối tượng bệnh nhân cao tuổi.[24]

Ung thư dạ dày

Một nghiên cứu của Hàn Quốc được thực hiện trên cơ sở dữ liệu bảo hiểm y tế gợi ý một mối tương quan giữa việc sử dụng PPI với ung thư dạ dày. Nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn 10 năm (2009 – 2019) trên đối tượng bệnh nhân trên 40 tuổi được chẩn đoán nhiễm Helicobacter Pylori. Tỷ lệ bệnh nhân xuất hiện ung thư dạ dày trong vòng dưới 1 năm sau chỉ định được so sánh giữa 2 nhóm tùy thuộc theo mức độ phơi nhiễm PPI lớn hơn hay nhỏ hơn 180 liều hàng ngày. Thời gian theo dõi các bệnh nhân trung bình là 8,3 năm. Nghiên cứu này đưa ra bằng chứng về sự gia tăng nguy cơ ung thư dạ dày ở những đối tượng có nguy cơ cao và sử dụng PPI dài hạn.[25]

Viêm kẽ thận cấp tính

Viêm kẽ thận cấp tính (AIN) có thể dẫn đến tổn thương thận vĩnh viễn. Tính đến tháng 6/2011, Trung tâm Theo dõi Phản ứng có hại của thuốc New Zealand (CARM) đã ghi nhận 65 trường hợp viêm thận kẽ liên quan đến việc sử dụng PPI. Năm 2015, PPI được CARM đề cập là một các loại thuốc phổ biến gây AIN với khoảng thời gian trung bình giữa lúc bắt đầu dùng PPI và xuất hiện các biểu hiện ở thận thường là 10 – 11 tuần (có thể thay đổi từ 1 tuần – 9 tháng).[16,26] Health Canada đã cập nhật bổ sung nguy cơ viêm ống thận kẽ cấp đối với 2 chế phẩm thuốc chứa omeprazol và omeprazol magnesi vào các mục Thận trọng, Phản ứng có hại và Thông tin dành cho bệnh nhân trong tờ thông tin sản phẩm lưu hành tại Canada.[27]

Một số tác dụng phụ khác

Một loạt các nghiên cứu về mối liên quan giữa việc sử dụng PPI làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch (đột quỵ do thiếu máu cục bộ, nhồi máu cơ tim lần đầu)[28], bệnh đái tháo đường tuýp 2[29] và sa sút trí tuệ [30] cũng đã được báo cáo, đặc biệt là ở những người sử dụng PPI lâu dài và ở liều cao.

Xem xét lại việc sử dụng PPI dài hạn

Trong quá trình sử dụng PPI cho bệnh nhân, việc sử dụng PPI nên được xem xét định kỳ, để xác định xem chỉ định có còn phù hợp hay không. Đối với những người đang dùng nhiều loại thuốc, việc ngừng điều trị PPI không cần thiết có thêm lợi ích là giảm số lượng thuốc đang dùng, tức là giảm “gánh nặng thuốc” và có thể cải thiện việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân.[17]

Đối tượng nào nên cân nhắc ngừng PPI ?[14,17]

Khuyến cáo

Không khuyến cáo

– Người trưởng thành (>18 tuổi) đã sử dụng PPI để điều trị:

·      Chứng ợ nóng;

·      GERD nhẹ – trung bình (mức A hoặc B theo Phân loại Los Angeles);

·      Viêm thực quản

và không còn các triệu chứng trên sau thời gian tối thiểu 4 tuần dùng thuốc.

– Bệnh nhân không có chỉ định rõ ràng cho PPI mãn tính.

– Bệnh nhân bị GERD phức tạp, có tiền sử viêm thực quản xói mòn nghiêm trọng (mức độ C hoặc D theo Phân loại Los Angeles), loét thực quản hoặc hẹp dạ dày – tá tràng.

– Bệnh nhân mắc bệnh thực quản Barrett, viêm thực quản ái toan hoặc xơ phổi vô căn.

Xuống thang điều trị PPI [14,17]

Có một số cách tiếp cận để giảm dần liều điều trị PPI và không có bằng chứng nào cho thấy phác đồ nào là tốt hơn. Quá trình ngừng PPI phải được cá nhân hóa cho từng bệnh nhân và được hướng dẫn bởi sự có hoặc không có triệu chứng ở mỗi bước. Một số bệnh nhân có thể chỉ cần giảm một bước trước khi họ có thể ngừng PPI, những người khác có thể cần giảm nhiều bước và sử dụng các phương pháp điều trị khác để kiểm soát các triệu chứng tái phát. 

– Nếu các triệu chứng trào ngược axit xuất hiện trong quá trình giảm liều hoặc sau khi dừng thuốc, hãy thử dùng thuốc đối kháng thụ thể histamine H2 hoặc thuốc kháng axit hoặc thuốc có chứa thuốc kháng axit và alginat.

– Người dùng PPI nên được đánh giá nguy cơ chảy máu đường tiêu hóa trên bằng chiến lược dựa trên bằng chứng trước khi ngừng kê đơn.

– Bệnh nhân ngừng điều trị PPI dài hạn nên được thông báo rằng họ có thể phát triển các triệu chứng đường tiêu hóa trên thoáng qua do tình trạng tăng tiết axit hồi ứng với các triệu chứng như khó tiêu, ợ nóng hoặc trào ngược, các triệu chứng hồi ứng thường không thể phân biệt được với các triệu chứng của GERD.

– Quyết định ngừng PPI chỉ nên dựa trên việc không có chỉ định sử dụng PPI, chứ không phải vì lo ngại về các biến cố bất lợi liên quan đến PPI (PAAE). Sự hiện diện của PAAE hoặc tiền sử PAAE ở người dùng PPI hiện tại không phải là chỉ định độc lập để ngừng PPI. Tương tự như vậy, sự hiện diện của các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến phát triển biến cố bất lợi liên quan đến việc sử dụng PPI cũng không phải là chỉ định độc lập để ngừng PPI.

Thuốc ức chế bơm proton là một trong những thuốc được sử dụng rộng rãi nhất trong thực hành lâm sàng, thuốc có hiệu quả cao trong việc làm giảm các triệu chứng gây ra do tăng tiết acid dịch vị và nhìn chung được dung nạp khá tốt. Tuy nhiên, không nên kê đơn PPI vô thời hạn mà không đánh giá lại người bệnh. PPI nên được dùng ở liều thấp nhất có hiệu quả và trong thời gian ngắn nhất có thể. 

Tài liệu tham khảo 

  1. Dược thư quốc gia Việt Nam
  2. Hướng dẫn sử dụng thuốc Esomeprazole
  3. ACG Clinical Guideline for the Diagnosis and Management of Gastroesophageal Reflux Disease The American Journal of Gastroenterology. January 2022;117(1):27-56. DOI: 10.14309/ajg.0000000000001538.
  4. AGA Clinical Practice Update on De-Prescribing of Proton Pump Inhibitors: Expert Review. AGA. 2022 Apr;162(4):1334-1342. DOI: 10.1053/j.gastro.2021.12.247
  5. Up To Date 2024.
  6. Proton pump inhibitors: When is enough, enough. BPJ 61 June 2014. Best Practice Journal. June 2014.
  7. Stopping proton pump inhibitors in older people. The Best Practice Advocacy Centre New Zealand (bpacnz). 24 January 2019.
  8. Summary Safety Review – Proton Pump Inhibitors (PPIs) – Assessing the risk of a type of skin reaction. Health Canada. December 7, 2017
  9. Barbara Farrell, et al. Deprescribing proton pump inhibitors. Canadian Family Physician. 63(5):354-364. 1 May 2017.
  10. Lisa Thomas,et al. Longitudinal Analysis of the Costs Associated with Inpatient Initiation and Subsequent Outpatient Continuation of Proton Pump Inhibitor Therapy for Stress Ulcer Prophylaxis in a Large Managed Care Organization. Journal of Managed Care Pharmacy. 16(2). DOI: https://doi.org/10.18553/jmcp.2010.16.2.122.
  11. Overprescribing proton pump inhibitors. BMJ. 2008;336(7634):2–3.2008 Jan 5.DOI: 10.1136/bmj.39406.449456.BE
  12. Yibirin M, et al. Adverse Effects Associated with Proton Pump Inhibitor Use. 2021 Jan; 13(1): e12759. DOI:10.7759/cureus.12759.
  13. John Maret-Ouda, et al. Proton pump inhibitor use and risk of pneumonia: a self-controlled case series study. Journal of Gastroenterology. 2023;58:734–740. DOI: 10.1007/s00535-023-02007-5
  14. Drug Safety Communication. FDA – U.S. Food and Drug Administration 2024.
  15. Jong Wook Kim, et al. Risk of gastric cancer among long-term proton pump inhibitor users: a population-based cohort study. European Journal of Clinical Pharmacology. 2023 Dec;79(12):1699-1708. DOI: 10.1007/s00228-023-03580-7.
  16. Keeping it Renal: Drug-Induced Acute Interstitial Nephritis. June 2015;36(2): 26-27.
  17. Health Product InfoWatch: May 2024. New health product safety information – Losec (omeprazole) and Losec Mups (omeprazole magnesium). Health Canada.
  18. S.G. Sehested, et al. Long-term use of proton pump inhibitors, dose–response relationship and associated risk of ischemic stroke and myocardial infarction. Journal of Internal Medicine. March 2018;283(3):268-281. DOI: https://doi.org/10.1111/joim.12698.
  19. Jinqiu Yuan, et al. Regular use of proton pump inhibitors and risk of type 2 diabetes: results from three prospective cohort studies. BMJ Journals.2021 Jun;70(6):1070-1077. DOI: 1136/gutjnl-2020-322557.
  20. Peidong Zhang, et al. Regular proton pump inhibitor use and incident dementia: population-based cohort study. BMC. 2022 Sep 1;20(1):271. DOI:10.1186/s12916-022-02478-y.

Tác giả: DS. Phạm Hoàng Ngân 

SỬ DỤNG KHÁNG SINH AN TOÀN VÀ HỢP LÍ

Kháng sinh ra đời đã đánh dấu một kỷ nguyên mới phát triển của y học trong việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn. Sử dụng kháng sinh có lợi ích to lớn trong điều trị, chăm sóc người bệnh khi được kê đơn và điều trị đúng.

Thuốc kháng vi sinh vật (Antimicobials) bao gồm thuốc kháng sinh (antibiotics), thuốc kháng virus (antivirals), thuốc kháng nấm (antifungals) và thuốc kháng ký sinh trùng (antiparasitics) là những thuốc được sử dụng trong dự phòng và điều trị các bệnh lý truyền nhiễm ở người, động vật và cây trồng [1]. Kháng sinh (antibiotics) là những chất kháng khuẩn (antibacterial substances) được tạo ra bởi các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, Actinomycetes), có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác. Hiện nay từ kháng sinh được mở rộng đến cả những chất kháng khuẩn có nguồn gốc tổng hợp như các sulfonamid và quinolon [2].

Kháng sinh tiếp cận và tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh theo các cơ chế chính [3]:

  • Tấn công trực tiếp thành tế bào (ức chế sinh tổng hợp vách tế bào vi khuẩn);
  • Làm rối loạn tính thấm màng tế bào;
  • Ức chế sinh tổng hợp protein;
  • Ức chế sinh tổng hợp acid nucleic (Ngăn chặn sự tổng hợp DNA và RNA, ức chế sinh tổng hợp các chất chuyển hóa cần thiết cho tế bào).

Đề kháng kháng sinh

Đề kháng kháng sinh (Antimicrobial Resistance – AMR) xảy ra khi vi khuẩn, virus, nấm và ký sinh trùng không còn phản ứng với thuốc kháng khuẩn, điều đó có nghĩa là vi sinh vật gây bệnh không bị tiêu diệt và tiếp tục phát triển. AMR là một quá trình tự nhiên xảy ra theo thời gian thông qua những thay đổi di truyền trong các tác nhân gây bệnh. Việc sử dụng sai mục đích và quá liều thuốc kháng sinh ở người, động vật và thực vật là nguyên nhân chính dẫn đến sự phát triển của các tác nhân gây bệnh kháng thuốc [1,4]

Cơ chế đề kháng kháng sinh [3,4]

Anh chup Man hinh 2025 02 08 luc 20.09.46

Điều đáng báo động là vi khuẩn kháng thuốc có thể chia sẻ cơ chế kháng thuốc của chúng với các vi khuẩn khác chưa từng tiếp xúc với thuốc kháng sinh.[4]

Tình trạng kháng thuốc và những ảnh hưởng tiêu cực

Kháng thuốc kháng sinh (AMR) là một trong những mối đe dọa hàng đầu đối với sức khỏe cộng đồng và phát triển toàn cầu. Tại Hoa Kỳ, hơn 2,8 triệu ca nhiễm trùng kháng thuốc xảy ra mỗi năm. Theo Báo cáo về mối đe dọa kháng thuốc năm 2019 của CDC, hơn 35.000 người tử vong do tình trạng này [5]. Người ta ước tính rằng AMR do vi khuẩn gây ra trực tiếp 1,27 triệu ca tử vong trên toàn cầu vào năm 2019 và góp phần gây ra 4,95 triệu ca tử vong [1,6]. Theo thống kê của “Chương trình đánh giá kháng kháng sinh” được tài trợ bởi chính phủ Anh, hàng năm trên thế giới có 700.000 ca tử vong bởi vi khuẩn kháng thuốc. Ước tính con số sẽ tăng lên đến 10 triệu người vào năm 2050 [6].

Ngoài tử vong và tàn tật, AMR còn gây tổn hại chi phí kinh tế đáng kể. Ngân hàng Thế giới ước tính rằng AMR có thể gây ra thêm 1 nghìn tỷ đô la chi phí chăm sóc sức khỏe vào năm 2050 và thiệt hại từ 1 nghìn tỷ đến 3,4 nghìn tỷ đô la cho tổng sản phẩm quốc nội (GDP) mỗi năm vào năm 2030. Điều này trở thành gánh nặng đè nặng lên các nước có thu nhập thấp và trung bình, làm trầm trọng thêm bất bình đẳng về sức khỏe toàn cầu [1,7].

Việc lạm dụng và sử dụng kháng sinh không phù hợp [3]

Có nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng kháng kháng sinh, trong đó việc lạm dụng kháng sinh trong cả ngành y tế và nông nghiệp là yếu tố quan trọng nhất.

 Trong cộng đồng, người bệnh có thể mua và sử dụng kháng sinh tùy ý mà không cần đơn của bác sỹ, dẫn đến việc tạo ra những loại vi khuẩn có sức đề kháng mạnh.

Tại các bệnh viện do số lượng người bệnh quá đông; nhiều người bệnh suy giảm hệ thống miễn dịch nặng; nhiều thiết bị và kỹ thuật mới được áp dụng; vi khuẩn từ cộng đồng tăng đề kháng; kiểm soát nhiễm khuẩn, thực hành cách ly, sự tuân thủ chưa hiệu quả; tăng sử dụng kháng sinh dự phòng; tăng điều trị kháng sinh cho nhiều loại vi khuẩn theo kinh nghiệm; sử dụng kháng sinh nhiều theo vùng, theo thời gian.

Việc sử dụng kháng sinh không hợp lý, không hiệu quả đang là vấn đề có phạm vi ảnh hưởng rộng khắp ở mọi cấp độ chăm sóc y tế, là nguyên nhân làm tăng đáng kể chi phí khám chữa bệnh, tiền mua kháng sinh luôn chiếm khoảng 50% kinh phí thuốc của các bệnh viện..

Bất kỳ liều kháng sinh nào cũng góp phần dẫn tới kháng thuốc. Tuy nhiên, việc lạm dụng và sử dụng không phù hợp kháng sinh là nguyên nhân chính góp phần phát triển và lan rộng vi khuẩn kháng kháng sinh.[8]

Công cụ phân loại kháng sinh WHO – AwaRe [9]

Năm 2017, Ủy ban chuyên gia của WHO về lựa chọn và sử dụng thuốc thiết yếu đã thành lập một công cụ nhằm hỗ trợ quản lý kháng sinh ở cấp địa phương, quốc gia và toàn cầu. Trong công cụ AWaRe, kháng sinh được chia thành ba loại: tiếp cận (Access), theo dõi (Watch) và dự trữ (Reserve). Mỗi loại dựa trên tác động tương ứng của nó đối với AMR.

Nhóm tiếp cận (Access) – là nhóm kháng sinh thuộc lựa chọn đầu tay hoặc thứ hai được khuyến nghị mạnh mẽ để điều trị theo kinh nghiệm các bệnh nhiễm trùng thông thường, ít tác dụng phụ hơn, nguy cơ kháng thuốc thấp hơn và ít tốn chi phí hơn. Tất cả các kháng sinh thuộc nhóm Access là một phần của danh sách thuốc thiết yếu (EML).

Nhóm theo dõi (Watch) – là kháng sinh có nguy cơ cao tác động tiêu cực đến tình trạng kháng thuốc. Một số kháng sinh nhóm Watch cũng được đưa vào danh sách thuốc thiết yếu vì chúng là lựa chọn hiệu quả nhất cho một số các hội chứng lâm sàng được xác định rõ, việc sử dụng chúng phải được theo dõi chặt chẽ và chỉ định hạn chế, chủ yếu được sử dụng trong môi trường bệnh viện.

Nhóm dự trữ (Reserve) – là kháng sinh được coi là biện pháp cuối cùng, có hoạt tính chống lại vi khuẩn kháng đa kháng (MDR) hoặc kháng rộng (XDR), việc sử dụng chúng nên được dành riêng cho các tình huống nguy kịch.

Phân loại AWaRe nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hạn chế sử dụng kháng sinh nhóm “Theo dõi” và “Dự trữ”. Đến năm 2023, WHO đặt mục tiêu ít nhất 60% tổng lượng tiêu thụ kháng sinh đến từ nhóm “Tiếp cận”. Tuy nhiên, bằng chứng mới từ Tổ chức Y tế Thế giới cho thấy tình trạng lạm dụng kháng sinh tràn lan trên toàn thế giới trong đại dịch COVID-19, điều này có thể làm trầm trọng thêm sự lây lan “âm thầm” của tình trạng kháng thuốc kháng sinh. Đáng lo ngại, nghiên cứu phát hiện ra rằng các loại kháng sinh ‘Watch’ có khả năng kháng thuốc cao hơn thường được kê đơn nhiều nhất trên toàn cầu. [10]  

KHUYẾN CÁO VỀ SỬ DỤNG KHÁNG SINH HỢP LÝ [8,10]

Lời khuyên dành cho nhân viên y tế

“Phòng ngừa tốt hơn – Kê đơn tốt hơn – Phổ cập thông tin tốt hơn”

Các chuyên gia y tế là những người đi đầu thực hiện chiến lược sử dụng kháng sinh hợp lý. Để duy trì tính hiệu quả của kháng sinh càng lâu càng tốt, việc sử dụng kháng sinh cần được giảm thiểu và định hướng tốt hơn, kèm theo thông tin phù hợp đến tất cả các bên liên quan.

Phòng ngừa nhiễm khuẩn tốt hơn và hạn chế lây truyền Kê đơn thuốc kháng sinh phù hợp Phổ cập cho bệnh nhân, phụ huynh và những người xung quanh về các thông tin thuốc
– Tuân thủ các hoạt động phòng ngừa (vệ sinh tay, đeo khẩu trang…)

– Nhắc nhở về lợi ích của việc tiêm chủng: trẻ em cũng như người lớn có thể được bảo vệ khỏi nhiều bệnh nhiễm trùng do virus và vi khuẩn bằng cách tiêm phòng. Vì vậy, vaccine góp phần hạn chế sử dụng kháng sinh.

– Ưu tiên các trường hợp không khuyến khích kê đơn kháng sinh, đặc biệt trong các trường hợp được cho là nhiễm virus

– Kê thuốc kháng sinh thích hợp nhất (ưu tiên kháng sinh phổ hẹp)

– Kê đơn kháng sinh với liều lượng và thời gian điều trị phù hợp.

– Về diễn biến tự nhiên của bệnh

– Vấn đề kháng kháng sinh

– Thông tin loại kháng sinh được kê đơn và tầm quan trọng của việc tuân thủ sử dụng nó đúng cách

– Lý do không kê kháng sinh cho trường hợp nhiễm virus và lợi ích của các biện pháp làm giảm triệu chứng.

– Về tính cần thiết của việc không tự kê đơn thuốc kháng sinh

Không kê thuốc kháng sinh trong các tình huống lâm sàng không cần thiết, như:

Viêm mũi họng, viêm thanh quản; Viêm tai giữa sung huyết, viêm tai giữa thanh dịch, viêm tai giữa chưa được chẩn đoán chắc chắn ; Viêm amidan cấp tính (Trẻ em <3 tuổi và ở người lớn hoặc trẻ em > 3 tuổi không có xét nghiệm test nhanh dịch hầu họng do liên cầu tan huyết beta nhóm A hoặc xét nghiệm âm tính) ; Viêm tiểu phế quản, viêm phế quản cấp tính ; Cúm và Covid-19 ; Sốt không rõ nguyên nhân ; Trong phẫu thuật răng miệng (ở đối tượng khoẻ mạnh): áp-xe nha chu; viêm ổ răng khô ; nhổ răng bằng thủ thuật cắt bỏ xương ổ răng ; bệnh lý tuỷ (viêm tuỷ hồi phục hoặc không hồi phục).

Nếu nghi ngờ, không kê thuốc kháng sinh và đánh giá lại nhu cầu điều trị trong vòng 48 giờ nếu tình huống lâm sàng của bệnh nhân cho phép.
Thời gian điều trị bằng kháng sinh đường uống thường ngắn và phù hợp với hầu hết các bệnh nhiễm khuẩn thường gặp:

– 5 ngày đối với nhiễm khuẩn tai ở trẻ em từ 2 tuổi trở lên và đối với bất kỳ độ tuổi nào trong trường hợp thiếu amoxicillin.

– 5 ngày đối với bệnh nhân viêm phổi

– 6 ngày điều trị bằng amoxicillin đối với viêm amidan do vi khuẩn

– 7 ngày đối với nhiễm khuẩn răng miệng (đối với một số kháng sinh nhạy cảm)

Sử dụng test nhanh giúp ngăn ngừa việc điều trị bằng kháng sinh một cách không cần thiết.

Ví dụ, với bệnh nhân đau họng cấp, test nhanh liên cầu nhóm A là một công cụ thiết yếu để chẩn đoán nguyên nhân đau họng là do virus hay vi khuẩn. Trong trường hợp test nhanh dương tính, bệnh nhân cần được điều trị bằng kháng sinh.

Trong trường hợp thiếu kháng sinh:

– Thực hiện theo các khuyến nghị cụ thể trong các tình huống không có kháng sinh

– Trong trường hợp không có sẵn các dạng bào chế của amoxicillin, đặc biệt là đối với trẻ em:

+ Có thể cân nhắc sử dụng các thuốc pha chế theo đơn do dược sĩ thực hiện.

+ Tránh kê đơn các loại kháng sinh khác vì có thể kém hiệu quả hơn, nguy cơ kháng thuốc cao hơn và có thể gây thiếu hụt các loại kháng sinh này: ví dụ trường hợp thay thế amoxicillin đơn trị liệu bằng dạng phối hợp amoxicillin-acid clavulanic, gây lạm dụng kháng sinh phổ rộng.

Tài liệu tham khảo:

  1. Antimicrobial resistance. WHO. 21 November 2023. URL: https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/antimicrobial-resistance
  2. Tài liệu “hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện” 2020. 5631/QĐ-BYT. Bộ Y tế.
  3. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh truyền nhiễm kèm theo Quyết định số 5642/QĐ-BYT ngày 31/12/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
  4. About Antimicrobial Resistance. April 22, 2024. URL: https://www.cdc.gov/antimicrobial-resistance/about/index.html
  5. 2019 Antibiotic Resistance Threats Report. CDC. July 16, 2024. URL: https://www.cdc.gov/antimicrobial-resistance/data-research/threats/index.html
  6. Antimicrobial Resistance Collaborators. (2022). Global burden of bacterial antimicrobial resistance in 2019: a systematic analysis. The Lancet; 399(10325): P629-655. DOI: https://doi.org/10.1016/S0140-6736(21)02724-0
  7. Marquez,Patricio V, et al. Drug-resistant infections : a threat to our economic future (Vol. 2) : final report (English). HNP/Agriculture Global Antimicrobial Resistance Initiative Washington, D.C. : World Bank Group. URL: http://documents.worldbank.org/curated/en/323311493396993758/final-report
  8. Recommandations pour le bon usage des antibiotiques. ANSM. Dec 20. 2023. URL: https://ansm.sante.fr/actualites/recommandations-pour-le-bon-usage-des-antibiotiques.
  9. AWaRe classification of antibiotics for evaluation and monitoring of use, 2023. WHO. URL: https://www.who.int/publications/i/item/WHO-MHP-HPS-EML-2023.04
  10. WHO reports widespread overuse of antibiotics in patients hospitalized with COVID-19. WHO. 26 April 2024.
  11. ANSM: Khuyến cáo về sử dụng kháng sinh hợp lý. URL: http://canhgiacduoc.org.vn/CanhGiacDuoc/DiemTin/2505/ANSM-khuyen-cao-ve-su-dung-khang-sinh-hop-ly.htm.
Tác giả: DS. Phạm Hoàng Ngân

THUỐC ỨC CHẾ MEN CHUYỂN ANGIOTENSIN (ACEI) VÀ  THUỐC CHẸN THỤ THỂ ANGIOTENSIN II (ARB) –  THẬN TRỌNG TRONG CHỈ ĐỊNH VÀ MỘT SỐ PHẢN ỨNG PHỤ CẦN LƯU Ý

Thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACEI) và thuốc chẹn thụ thể angiotensin II (ARB) được sử dụng rộng rãi trong điều trị tăng huyết áp, bệnh thận mãn tính và suy tim. Ngoài hiệu quả, các tác nhân này còn có thêm lợi thế là được dung nạp đặc biệt tốt vì chúng tạo ra ít tác dụng phụ đặc hiệu và không có tác dụng phụ lên chuyển hóa lipid và glucose như khi dùng liều cao thuốc lợi tiểu hoặc thuốc chẹn beta.[78]

Anh chup Man hinh 2025 02 08 luc 20.17.10

Hạ huyết áp

Yếu cơ, chóng mặt hoặc ngất xỉu có thể là kết quả của việc giảm huyết áp quá mức. Các triệu chứng hạ huyết áp có vẻ phổ biến hơn ở nhóm dùng thuốc ARB so với nhóm dùng thuốc ACEI. Trong thử nghiệm về so sánh thuốc ức chế men chuyển angiotensin – Ramipril, thuốc ARB – Telmisartan và sự kết hợp của hai loại thuốc này ở những bệnh nhân mắc bệnh mạch máu hoặc tiểu đường có nguy cơ cao – ONTARGET, các triệu chứng hạ huyết áp đủ nghiêm trọng để yêu cầu ngừng thuốc vĩnh viễn xảy ra thường xuyên hơn đáng kể với Telmisartan (ARB) so với Ramipril (ACEI)[10]10. Hạ huyết áp liều đầu tiên, được ghi nhận ở những bệnh nhân bị suy giảm thể tích máu có nồng độ renin ban đầu cao, có thể được giảm thiểu bằng cách không bắt đầu điều trị nếu bệnh nhân bị mất thể tích và/hoặc ngừng liệu pháp lợi tiểu trước đó trong 3-5 ngày. Hạ huyết áp cũng có thể xảy ra sau khi bắt đầu điều trị ở những bệnh nhân bị suy tim[12]. Có thể giảm thiểu rủi ro bằng cách bắt đầu với liều rất thấp (ví dụ: Enalapril 2,5 mg liều 2 lần/ngày).[8]

Tăng kali máu

Tăng kali máu là nồng độ kali huyết thanh > 5,5 mEq/L (> 5,5 mmol/L), thường là kết quả của giảm bài tiết kali của thận hoặc dịch chuyển kali bất thường ra khỏi tế bào. Angiotensin II và sự gia tăng nồng độ kali trong huyết tương là những yếu tố chính làm tăng giải phóng aldosterone, đây là chất kích thích nội tiết tố chính đối với bài tiết kali qua nước tiểu. Việc chặn cả hai tác động này bằng thuốc ức chế ACE (hoặc ARB) sẽ làm giảm bài tiết aldosterone, do đó làm suy yếu hiệu quả bài tiết kali qua nước tiểu[14]. Thuốc ACEI và ARB thường làm tăng nồng độ kali huyết thanh <0,5mEq/L ở những bệnh nhân có chức năng thận tương đối bình thường. Tăng kali máu rõ rệt hơn có thể xảy ra ở những bệnh nhân mắc bệnh thận mãn tính, tiểu đường, đang sử dụng đồng thời thuốc lợi tiểu giữ kali hoặc thuốc chống viêm không steroid hoặc ở người lớn tuổi.[1,8] Một số trường hợp tử vong do tăng kali máu có liên quan đến việc sử dụng thuốc ức chế men chuyển angiotensin cũng đã được báo cáo.[15]

Ho[10]

Ho khan, khạc đã được mô tả ở 5 – 20% bệnh nhân được điều trị bằng thuốc ACEI. Dữ liệu đến từ phân tích tổng hợp 125 thử nghiệm trong đó ho được ghi nhận ở khoảng 11% bệnh nhân được điều trị bằng thuốc ACEI. Tỷ lệ ho thấp hơn ở những bệnh nhân được điều trị bằng ARB.

Chống chỉ định trong thai kỳ [9]

Thuốc ức chế ACE (và các chất ức chế khác của hệ thống renin angiotensin) chống chỉ định trong thai kỳ vì chúng có liên quan đến việc tăng tỷ lệ biến chứng ở thai nhi.  

Anh chup Man hinh 2025 02 08 luc 20.17.17

Một số nguy cơ hiếm gặp nhưng nghiêm trọng

Phù mạch và phản ứng phản vệ

Phù mạch (Angioedema) là một biến chứng hiếm gặp nhưng có thể gây tử vong khi sử dụng thuốc ACEI. Trong một thử nghiệm lâm sàng lớn (ONTARGET), phù mạch xảy ra ở 0,3% trong hơn 8500 bệnh nhân được điều trị bằng Ramipril (ACEI)[10]. Một nửa trong số 111 bệnh nhân có đợt phù mạch đầu tiên khi đang dùng thuốc ACEI đã bị tái phát phù mạch sau khi ngừng thuốc (có thể tồn tại một cơ chế bệnh sinh không liên quan đến thuốc ACEI)[11].

Phản ứng phản vệ (anaphylactoid) cũng được ghi nhận ở bệnh nhân sử dụng thuốc ức chế ACE trong quá trình chạy thận nhân tạo bằng màng lọc polyacrylonitrile (PAN) có thông lượng cao.[8]

Nguy cơ tổn thương thận cấp  

Việc sử dụng thuốc có thể liên quan đến tình trạng tăng nitrogen urê máu (azotemia) và tăng creatinine huyết thanh, dẫn đến thiểu niệu và tổn thương thận cấp tính (AKI) ở mọi lứa tuổi. Sự gia tăng creatinine huyết thanh được dự đoán do cơ chế dược lý và thường ổn định trong khoảng 20% đến 30% so với mức cơ bản; mức tăng cao hơn có thể chỉ ra tình trạng tăng trương lực ở tiểu động mạch đi (chẳng hạn như trong các trường hợp giảm thể tích tuần hoàn, suy tim sung huyết, hoặc hẹp động mạch thận).[8]

các ACEI, ARB và thuốc lợi tiểu được kê đơn phổ biến và thường được chỉ định đồng thời. Việc phối hợp 2 hoặc 3 loại thuốc này có liên quan đến tăng tỷ lệ AKI trước thận.[5]

Vàng da ứ mật [9,16,17]

Trong hai thập kỷ qua, thuốc ức chế men chuyển angiotensin đã được kê đơn ngày càng nhiều để điều trị các bệnh tim mạch và thận. Nhìn chung, nhóm thuốc này được dung nạp tốt, tuy vậy, tổn thương gan hiếm gặp (bao gồm vàng da ứ mật, có thể tiến triển thành hoại tử gan cấp tính) đã được báo cáo ở bệnh nhân sử dụng các loại thuốc như captopril, enalapril, lisinopril và fosinopril (bao gồm một số trường hợp tử vong). Ngừng thuốc nếu men gan tăng cao rõ rệt hoặc vàng da.

Phản ứng trên da [8,1821]

Nhiều phản ứng trên da đã được báo cáo, bao gồm phát ban da và các biến cố hiếm gặp hơn, chẳng hạn như: hoại tử biểu bì nhiễm độc (TEN), Phát ban dạng lichen, hội chứng DRESS, bệnh da IgA tuyến tính (LABD)và bệnh pemphigus, nhạy cảm với ánh sáng trên da cũng đã được mô tả.

Ức chế tuỷ xương [8]

Ức chế tủy xương hiếm gặp nhưng nghiêm trọng với sự giảm số lượng dòng tế bào huyết học đã xảy ra ở những bệnh nhân dùng captopril, có thể biểu hiện dưới dạng giảm bạch cầu trung tính, mất bạch cầu hạt, giảm tiểu cầu, thiếu máu tan huyết hoặc giảm ba dòng tế bào máu. Hầu hết các trường hợp đã được báo cáo ở người lớn; một số trường hợp nhi khoa đã được báo cáo. Một số trường hợp được báo cáo là tử vong, trong khi ở những trường hợp khác, tủy xương phục hồi sau khi dùng lại captopril mà không có sự cố nào xảy ra. Các báo cáo về ức chế tủy xương có vẻ phổ biến hơn ở những bệnh nhân dùng captopril so với những bệnh nhân dùng các thuốc ức chế men chuyển angiotensin khác. Thông thường, số lượng bạch cầu trung tính thường trở lại mức cơ bản trong vòng 2 tuần sau khi ngừng thuốc.

Anh chup Man hinh 2025 02 08 luc 20.19.33

Đánh giá giữa lợi ích và nguy cơ[24]

Theo hướng dẫn Thực hành Lâm sàng của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA/ ACC/ HFSA) về Quản lý Suy tim năm 2022; Hướng dẫn về tăng huyết áp của Hiệp hội Tăng huyết áp Châu Âu (ESH) năm 2023 và Hướng dẫn về quản lý huyết áp cao và tăng huyết áp của Hiệp hội Tim mạch Châu Âu (ESC) 2024, nhóm thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACEI) và chẹn thụ thể angiotensin II (ARB) được khuyến cáo là liệu pháp đầu tay dù là dùng đơn trị hay dạng phối hợp bởi những lợi ích mà 2 nhóm này mang lại, không chỉ trong việc quản lí tăng huyết áp mà còn bảo vệ tim mạch và thận.

Các bác sĩ và chuyên gia y tế cần cân nhắc về lợi ích và nguy cơ của thuốc trước khi đưa ra hướng điều trị, đồng thời theo dõi tình trạng của người bệnh để quá trình điều trị đạt được hiệu quả nhất. 

Tài liệu tham khảo 

  1. Dược thư quốc gia Việt Nam
  2. Prasantha L Vemu, et al. 2023 ESH Hypertension Guideline Update: Bringing Us Closer Together Across the Pond. ACC/AHA. Feb 05, 2024.
  3. Paul A. Heidenreich, et al. 2022 AHA/ACC/HFSA Guideline for the Management of Heart Failure: A Report of the American College of Cardiology/American Heart Association Joint Committee on Clinical Practice Guidelines. JACC. 2022 May,79(17):e263–e421.
  4. 2024 ESC Guidelines for the management of elevated blood pressure and hypertension
  5. Vũ Thùy Dung. Thận trọng về nguy cơ tổn thương thận cấp do thuốc ở người cao tuổi. Cảnh giác dược. URL:https://magazine.canhgiacduoc.org.vn/Magazine/Details/241
  6. Joseph L. Izzo, et al. Angiotensin-Converting Enzyme Inhibitors. J Clin Hypertens (Greenwich). 2011;13:667–675. DOI: https://doi.org/10.1111/j.1751-7176.2011.00508.x .
  7. Addison A. Taylor, et al. Angiotensin Receptor Blockers: Pharmacology, Efficacy, and Safety. J Clin Hypertens (Greenwich). 2011;13:677–686. DOI: https://doi.org/10.1111/j.1751-7176.2011.00518.x
  8. Up To Date 2024
  9. FDA 2024
  10. The ONTARGET Investigators. Telmisartan, Ramipril, or Both in Patients at High Risk for Vascular Events. New England Journal of Medicine. Vol 358(15):1547-1559.April 10, 2008. DOI: 10.1056/NEJMoa0801317.
  11. Beltrami, Laura, et al. Long-term follow-up of 111 patients with angiotensin-converting enzyme inhibitor-related angioedema. Journal of Hypertension. 29(11):p 2273-2277; November 2011. DOI:1097/HJH.0b013e32834b4b9b.
  12. J B Kostis, et al. Adverse effects of enalapril in the Studies of Left Ventricular Dysfunction (SOLVD). SOLVD Investigators. American Heart Journal. 1996 Feb;131(2):350-5. doi: 10.1016/s0002-8703(96)90365-8.
  13. Spironolactone and renin-angiotensin system drugs in heart failure: risk of potentially fatal hyperkalaemia.Medicines and Healthcare products Regulatory Agency. 17 February 2016. URL: https://www.gov.uk/drug-safety-update/spironolactone-and-renin-angiotensin-system-drugs-in-heart-failure-risk-of-potentially-fatal-hyperkalaemia
  14. Tasnim Momoniat, et al. ACE inhibitors and ARBs: Managing potassium and renal function. Cleveland Clinic Journal of Medicine. September 2019, 86 (9) 601-607; DOI: https://doi.org/10.3949/ccjm.86a.18024
  15. Hans Schepkens, et al. Life-threatening hyperkalemia during combined therapy with angiotensin-converting enzyme inhibitors and spironolactone: an analysis of 25 cases. The American Journal of Medicine. April 15, 2001;Vol11(6):438-441. DOI: 1016/S0002-9343(01)00642-8
  16. Elaine Yeung, et al. Ramipril-Associated Hepatotoxicity. Arch Pathol Lab Med.2003.127(11):1493–1497. DOI: https://doi.org/10.5858/2003-127-1493-RH
  17. Saini, et al. Case reports: ACE Inhibitor Side Effects: It’s Not Just the Kidney Anymore. American Journal of Gastroenterology.Vol106:S289-S290, October 2011.
  18. Delal A Alkurtass, et al. Possible Captopril-Induced Toxic Epidermal Necrolysis. The Annals of pharmacotherapy. March 2003. Vol37(3). DOI: https://doi.org/10.1345/aph.1C284.
  19. Chaker Ben Salem, et al. Brief Report: Captopril-induced lichen planus pemphigoides. PDS. July 2008. Vol 17(7):722-724. DOI: https://doi.org/10.1002/pds.1618
  20. Hannah Stirton, et al. Drug Reaction with Eosinophilia and Systemic Symptoms (DReSS)/Drug-Induced Hypersensitivity Syndrome (DiHS)—Readdressing the DreSS. Biomedicines 2022, 10(5):999. DOI: https://doi.org/10.3390/biomedicines10050999.
  21. Forugh Ghaedi, et al. Drug-induced pemphigus: A systematic review of 170 patients. International Immunopharmacology. Volume 92. March 2021. DOI: https://doi.org/10.1016/j.intimp.2020.107299.
  22. Georg Amun Hofmann, Benedikt Weber. Drug-induced photosensitivity: culprit drugs, potential mechanisms and clinical consequences. January 2021,19(1):19-29. DOI: https://doi.org/10.1111/ddg.14314. 
Tác giả: DS. Phạm Hoàng Ngân 

THUỐC ỨC CHẾ KÊNH ĐỒNG VẬN CHUYỂN NATRI-GLUCOSE 2 (SGLT2i)

– HIỆU QUẢ TRONG ĐIỀU TRỊ VÀ NHỮNG TÁC DỤNG PHỤ CẦN LƯU Ý

Bệnh đái tháo đường tuýp 2 có xu hướng là một căn bệnh tiến triển và hầu hết bệnh nhân cần điều trị bằng cách kết hợp các thuốc hạ đường huyết. Mặc dù có nhiều loại thuốc điều trị bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) tuýp 2, nhiều người mắc bệnh này vẫn không kiểm soát được đường huyết tốt, một số thuốc hạ đường huyết có tác dụng phụ như tăng cân hoặc hạ đường huyết. Nhóm thuốc ức chế kênh đồng vận chuyển natri – glucose 2 (SGLT2i) là một nhóm thuốc hạ đường huyết mớivới cơ chế tác động đường huyết độc lập với insulin đã mở ra cơ hội trong quản lý bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) tuýp 2.[1,5,6,8]

Anh chup Man hinh 2025 02 08 luc 20.22.36

Cơ chế tác động

Chất ức chế đồng vận chuyển natri-glucose-2 (SGLT2i) được biểu hiện ở ống lượn gần và làm trung gian cho sự tái hấp thu khoảng 90% lượng glucose đã lọc. Thuốc ức chế SGLT2 thúc đẩy bài tiết glucose qua thận và do đó làm giảm nhẹ lượng glucose trong máu ở những bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2. Chất ức chế SGLT2 làm giảm nồng độ glucose trong huyết tương bằng cách ngăn chặn sự tái hấp thu glucose đã lọc, giảm khi nồng độ trong huyết tương giảm. Do đó, chúng thường không gây hạ đường huyết khi không có liệu pháp nào khác gây hạ đường huyết. Chất ức chế SGLT2 làm giảm nhẹ huyết áp và cân nặng. [6,8]

Lợi ích của nhóm SGLT2i trên những cơ quan khác

Năm 2008, do có sự xuất hiện của các lo ngại liên quan đến an toàn tim mạch của các thuốc SLGT2i, Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã yêu cầu thực hiện các thử nghiệm lâm sàng lớn để chứng minh tính an toàn trên tim mạch với tất cả các thuốc điều trị ĐTĐ mới. Những nghiên cứu như DAPA-HF[9] và EMPEROR-Reduced[10] ngày càng củng cố những tác động tích cực trên thận của nhóm thuốc SGLT2i.[11]

Lợi ích trên tim mạch và hệ hô hấp [11]

Chất ức chế đồng vận chuyển natri-glucose-2 (SGLT2i) đã được sử dụng để ngăn ngừa sự phát triển và tiến triển của nhiều bệnh tim mạch và hô hấp. Một số thử nghiệm có đối chứng giả dược cho thấy các biến cố tim mạch bất lợi đã giảm sau khi điều trị ở những bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ loại 2.

Nhóm thuốc SGLT2i được biết là tác động đến cơ tim và có tác dụng bảo vệ bằng cách giảm tốc độ tiết chemokin tiền viêm. Kết quả này chủ yếu là do tác động của SGLT2i trong việc giảm cân nặng, đặc biệt là mỡ cơ thể. Một số lợi ích tim mạch bổ sung thu được từ việc sử dụng SGLT2i bao gồm tác dụng hạ huyết áp. Các bệnh tim mạch có tỷ lệ mắc giảm bao gồm các tình trạng như rung nhĩ, nhịp tim chậm, tăng huyết áp, tăng huyết áp cấp cứu, suy tim cấp và giãn tĩnh mạch. Các bệnh hô hấp liên quan đến việc giảm tỷ lệ mắc khi sử dụng thuốc ức chế SGLT2 bao gồm phù phổi cấp, hen suyễn, viêm phế quản, COPD, ung thư phổi không tế bào nhỏ, viêm phổi, tràn dịch màng phổi, phù phổi và khối u, nhiễm trùng đường hô hấp và hội chứng ngưng thở khi ngủ.

Lợi ích trên hệ thống thận

Thuốc ức chế SGLT2 được nhắc đến như một nhóm thuốc làm giảm nguy cơ tiến triển bệnh thận.[6SGLT2i ảnh hưởng đến con đường hệ thống renin-angiotensin-aldosterone (RAAS) ở thận, thuốc làm điều hòa giảm con đường này cho phép bảo vệ thận, ức chế các tổn thương do tăng lọc cầu thận.[11] Trong một phân tích tổng hợp của 3 thử nghiệm về bệnh tim mạch, empagliflozin, canagliflozin và dapagliflozin đã được chứng minh làm giảm sự tiến triển của bệnh thận do ĐTĐ, với tác dụng tương tự được quan sát thấy ở những bệnh nhân mắc bệnh tim xơ vữa động mạch đã xác định hoặc có nhiều yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim mạch khác. Mặc dù lợi ích có mặt trên tất cả các tỷ lệ mức lọc cầu thận ước tính (eGFR) đã nghiên cứu, nhưng lợi ích ít hơn rõ ràng ở những người mắc bệnh thận nghiêm trọng khi bắt đầu dùng thuốc SGLT2i.

Một số tác dụng phụ đáng lưu ý

Tác dụng phụ của việc sử dụng chất ức chế SGLT2 là các triệu chứng đi kèm với tình trạng lợi tiểu thẩm thấu đã được báo cáo, chẳng hạn như giảm thể tích, mất nước, hạ huyết áp tư thế đứng, chóng mặt tư thế, ngất xỉu và hạ huyết áp. Mặc dù nghiêm trọng, nhưng những tác dụng phụ này được báo cáo là không thường xuyên và xảy ra với tỷ lệ cao hơn ở những đối tượng: Bệnh nhân cao tuổi, những người dùng liều cao, những người sử dụng thuốc lợi tiểu quai và những người bị suy thận. Các tác dụng phụ thứ cấp của loại thuốc này có thể dẫn đến sụt cân quá mức và hạ huyết áp, điều này có thể không mong muốn và phải được cân nhắc trong chỉ định. Một bài báo đã báo cáo về sự gia tăng nhẹ đến trung bình các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu khi sử dụng SGLT2, trong đó nhiễm trùng Candida là tác dụng phụ phổ biến nhất. [11]

Nguy cơ tiềm ẩn bệnh đa hồng cầu [2,12]

Bệnh đa hồng cầu là tình trạng tăng hemoglobin và/hoặc hematocrit trên mức bình thường do tăng sản xuất dòng hồng cầu.

Ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2, tăng tái hấp thu glucose thông qua kênh vận chuyển SGLT2 ở thận có thể gây ra những stress cho con đường chuyển hóa. Điều này dẫn đến tổn thương các tế bào tiết erythropoietin ở thận, kéo theo đó làm giảm nồng độ erythropoietin trong huyết thanh. Thuốc ức chế SGLT2 có thể làm giảm stress chuyển hóa ở thận thông qua ức chế kênh đồng vận chuyển này. Từ đó, erythropoietin được tăng bài tiết ở thận, yếu tố này kích thích sản xuất hồng cầu. Do đó, thuốc ức chế SGLT2 có thể là nguyên nhân gây tăng nồng độ hematocrit thứ phát sau khi tăng erythropoietin. Trong các thử nghiệm lâm sàng, tăng hematocrit so với ban đầu đã được quan sát thấy ở những bệnh nhân sử dụng empagliflozin hoặc dapagliflozin so với nhóm dùng giả dược (placebo). Trung tâm theo dõi phản ứng có hại của thuốc New Zealand (CARM) đã nhận được một báo cáo về trường hợp đa hồng cầu sau khi sử dụng empagliflozin.

Nguy cơ nhiễm toan ceton do đái tháo đường (DKA)

Trong đa số báo cáo phản ứng có hại hậu mại nghi ngờ hoặc đã xác định gặp DKA, tình trạng nhiễm toan ceton có thể kéo dài từ 3 ngày trở lên, ngay cả khi đã ngừng sử dụng thuốc ức chế SGLT2 và thực hiện xử trí DKA theo phác đồ tiêu chuẩn.[3]

Đã có báo cáo về các trường hợp nhiễm toan ceton do đái tháo đường xảy ra sau phẫu thuật khi đã ngừng sử dụng thuốc ức chế SGLT2 trước đó 2 ngày hoặc ngắn hơn. Do đó, Để giảm nguy cơ phát triển nhiễm toan ceton sau phẫu thuật, FDA đã chấp thuận những thay đổi đối với thông tin kê đơn thuốc ức chế SGLT2: Các chuyên gia chăm sóc sức khỏe nên cân nhắc ngừng dùng canagliflozin, dapagliflozin và empagliflozin ít nhất 3 ngày và ngừng dùng ertugliflozin ít nhất 4 ngày trước khi phẫu thuật  hoặc các thủ thuật yêu cầu nhịn ăn dài, nhằm đảm bảo phần lớn thuốc được đào thải khỏi cơ thể. Khuyến cáo theo dõi tình trạng nhiễm toan ceton do đái tháo đường ở bệnh nhân sau phẫu thuật ngay cả khi đã ngừng sử dụng thuốc ức chế SGLT2. Nguy cơ nhiễm toan ceton do đái tháo đường khi dùng SGLT2i là hiếm gặp ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2. [3,4,13,14]

Nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu – sinh dục (GU) [15]

Năm 2015, FDA đã ban hành thông báo an toàn thuốc về nguy cơ gia tăng nhiễm trùng đường tiết niệu nghiêm trọng liên quan đến SGLT2i. FDA đã ban hành một cảnh báo khác vào năm 2018 về nguy cơ viêm cân hoại tử ở tầng sinh môn, còn được gọi là hoại thư Fournier.[16]

Mặc dù SGLT2i có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng nấm sinh dục (GMI) đặc biệt ở phụ nữ, nhưng nguy cơ nhiễm trùng tiết niệu (UTI) liên quan đến việc sử dụng SGLT2i luôn ở mức thấp trong cả RCT và các nghiên cứu quan sát. Việc ngừng sử dụng SGLT2i đã được chứng minh là làm tăng nguy cơ xảy ra các kết quả bất lợi ở những bệnh nhân bị suy tim. Lợi ích của SGLT2i thường lớn hơn nguy cơ nhiễm trùng GU ngay cả ở những người có yếu tố nguy cơ. Tiền sử nhiễm trùng GU không biến chứng không phải là chống chỉ định của SGLT2i, do đó, nên tiếp tục sử dụng SGLT2i cùng với phương pháp điều trị thích hợp cho các trường hợp nhiễm trùng tiết niệu nhẹ đến trung bình và nên giảm thiểu thời gian ngừng sử dụng SGLT2i ngay cả trong trường hợp nhiễm trùng nặng.[15]

Đánh giá giữa lợi ích và nguy cơ  [1,4,5,7]

Nhóm thuốc SGLT2i vừa có kết quả tích cực đối với bệnh thận và tim mạch vừa có tác dụng phụ đáng chú ý. Một số tác dụng phụ của nhóm thuốc này tuy có nghiêm trọng nhưng tỷ lệ xảy ra thấp hoặc rất hiếm. Trong đa số nghiên cứu thử nghiệm và các tài liệu, khuyến cáo đều nhấn mạnh lợi ích mà nhóm SGLT2i đem lại lớn hơn nhiều so với bất kỳ nguy cơ tác dụng phụ nào của thuốc. Các bác sĩ và chuyên gia y tế cần xem xét đối tượng bệnh nhân phù hợp khi chỉ định thuốc nhóm SGLT2i, cân nhắc về lợi ích và nguy cơ của thuốc trước khi đưa ra hướng điều trị, đồng thời theo dõi tình trạng của người bệnh để quá trình điều trị đạt được hiệu quả nhất.

Anh chup Man hinh 2025 02 08 luc 20.22.45

Tài liệu tham khảo 

  1. Dược thư quốc gia Việt Nam V
  2. Medsafe: Thuốc ức chế kênh đồng vận chuyển natri-glucose 2 (SGLT2) và nguy cơ tiềm ẩn bệnh đa hồng cầu. ADR – Cảnh Giác Dược 2023. URL: http://canhgiacduoc.org.vn/CanhGiacDuoc/DiemTin/2384/Medsafe-Thuoc-uc-che-kenh-dong-van-chuyen-natri-glucose2-SGLT2-va-nguy-co-tiem-an-benh-da-hong-cau.htm .
  3. Health Canada: Cập nhật thông tin sản phẩm của các thuốc ức chế SGLT-2 tại Canada. ADR – Cảnh Giác Dược 2023. URL: http://canhgiacduoc.org.vn/CanhGiacDuoc/DiemTin/2605/Health-Canada-cap-nhat-thong-tin-san-pham-cac-thuoc-uc-che-SGLT-2.htm .
  4. The American Diabetes Association Releases the Standards of Care in Diabetes—2024. Diabetes Care 2024;47(Supplement_1):S158–S178. DOI: https://doi.org/10.2337/dc24-S009
  5. FDA 2024
  6. Up To Date 2024
  7. Dapagliflozin: Drug information. Uptodate, Inc.
  8. Christine Clar, et al. Systematic review of SGLT2 receptor inhibitors in dual or triple therapy in type 2 diabetes. 2012 Oct 18;2(5):e001007. DOI: 10.1136/bmjopen-2012-001007.
  9. John J.V. McMurray, et al. Dapagliflozin in Patients with Heart Failure and Reduced Ejection Fraction. NEJM. 2019;381:1995-2008. DOI: 10.1056/NEJMoa1911303.
  10. Milton Packer, et al. Cardiovascular and Renal Outcomes with Empagliflozin in Heart Failure. NEJM. 2020;383:1413-1424. DOI: 10.1056/NEJMoa2022190.
  11. Bains Jasleen, et al. Sodium-Glucose Cotransporter 2 (SGLT2) Inhibitors: Benefits Versus Risk. Cureus. 2023 Jan 18;15(1):e33939. doi: 7759/cureus.33939.
  12. Sodium-glucose co-transporter 2 (SGLT2) inhibitors and potential risk for polycythaemia. MEDSAFE. June 2023;44(2): 35–37. URL: https://www.medsafe.govt.nz/profs/PUArticles/June2023/SGLT2-inhibitors-potential-risk-polycythaemia.html
  13. Health Product InfoWatch: August 2024. Health Canada. URL: https://www.canada.ca/en/health-canada/services/drugs-health-products/medeffect-canada/health-product-infowatch/august-2024.html#a2_a1 .
  14. FDA revises labels of SGLT2 inhibitors for diabetes to include warnings about too much acid in the blood and serious urinary tract infections. FDA Drug Safety Communication. URRL: https://www.fda.gov/drugs/drug-safety-and-availability/fda-revises-labels-sglt2-inhibitors-diabetes-include-warnings-about-too-much-acid-blood-and-serious
  15. Veraprapas Kittipibul, et al. Genitourinary Tract Infections in Patients Taking SGLT2 Inhibitors: JACC Review Topic of the Week. JACC. 2024 Apr;83(16):1568–1578. DOI: 1016/j.jacc.2024.01.040
  16. FDA warns about rare occurrences of a serious infection of the genital area with SGLT2 inhibitors for diabetes. FDA. URL: https://www.fda.gov/drugs/drug-safety-and-availability/fda-warns-about-rare-occurrences-serious-infection-genital-area-sglt2-inhibitors-diabetes

Tác giả: DS. Phạm Hoàng Ngân 

Tải tài liệu 

Đối tác