Kháng sinh ra đời đã đánh dấu một kỷ nguyên mới phát triển của y học trong việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn. Sử dụng kháng sinh có lợi ích to lớn trong điều trị, chăm sóc người bệnh khi được kê đơn và điều trị đúng.
Thuốc kháng vi sinh vật (Antimicobials) bao gồm thuốc kháng sinh (antibiotics), thuốc kháng virus (antivirals), thuốc kháng nấm (antifungals) và thuốc kháng ký sinh trùng (antiparasitics) là những thuốc được sử dụng trong dự phòng và điều trị các bệnh lý truyền nhiễm ở người, động vật và cây trồng [1]. Kháng sinh (antibiotics) là những chất kháng khuẩn (antibacterial substances) được tạo ra bởi các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, Actinomycetes), có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác. Hiện nay từ kháng sinh được mở rộng đến cả những chất kháng khuẩn có nguồn gốc tổng hợp như các sulfonamid và quinolon [2].
Kháng sinh tiếp cận và tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh theo các cơ chế chính [3]:
- Tấn công trực tiếp thành tế bào (ức chế sinh tổng hợp vách tế bào vi khuẩn);
- Làm rối loạn tính thấm màng tế bào;
- Ức chế sinh tổng hợp protein;
- Ức chế sinh tổng hợp acid nucleic (Ngăn chặn sự tổng hợp DNA và RNA, ức chế sinh tổng hợp các chất chuyển hóa cần thiết cho tế bào).
Đề kháng kháng sinh
Đề kháng kháng sinh (Antimicrobial Resistance – AMR) xảy ra khi vi khuẩn, virus, nấm và ký sinh trùng không còn phản ứng với thuốc kháng khuẩn, điều đó có nghĩa là vi sinh vật gây bệnh không bị tiêu diệt và tiếp tục phát triển. AMR là một quá trình tự nhiên xảy ra theo thời gian thông qua những thay đổi di truyền trong các tác nhân gây bệnh. Việc sử dụng sai mục đích và quá liều thuốc kháng sinh ở người, động vật và thực vật là nguyên nhân chính dẫn đến sự phát triển của các tác nhân gây bệnh kháng thuốc [1,4].

Tình trạng kháng thuốc và những ảnh hưởng tiêu cực
Kháng thuốc kháng sinh (AMR) là một trong những mối đe dọa hàng đầu đối với sức khỏe cộng đồng và phát triển toàn cầu. Tại Hoa Kỳ, hơn 2,8 triệu ca nhiễm trùng kháng thuốc xảy ra mỗi năm. Theo Báo cáo về mối đe dọa kháng thuốc năm 2019 của CDC, hơn 35.000 người tử vong do tình trạng này [5]. Người ta ước tính rằng AMR do vi khuẩn gây ra trực tiếp 1,27 triệu ca tử vong trên toàn cầu vào năm 2019 và góp phần gây ra 4,95 triệu ca tử vong [1,6]. Theo thống kê của “Chương trình đánh giá kháng kháng sinh” được tài trợ bởi chính phủ Anh, hàng năm trên thế giới có 700.000 ca tử vong bởi vi khuẩn kháng thuốc. Ước tính con số sẽ tăng lên đến 10 triệu người vào năm 2050 [6].
Ngoài tử vong và tàn tật, AMR còn gây tổn hại chi phí kinh tế đáng kể. Ngân hàng Thế giới ước tính rằng AMR có thể gây ra thêm 1 nghìn tỷ đô la chi phí chăm sóc sức khỏe vào năm 2050 và thiệt hại từ 1 nghìn tỷ đến 3,4 nghìn tỷ đô la cho tổng sản phẩm quốc nội (GDP) mỗi năm vào năm 2030. Điều này trở thành gánh nặng đè nặng lên các nước có thu nhập thấp và trung bình, làm trầm trọng thêm bất bình đẳng về sức khỏe toàn cầu [1,7].
Việc lạm dụng và sử dụng kháng sinh không phù hợp [3]
Có nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng kháng kháng sinh, trong đó việc lạm dụng kháng sinh trong cả ngành y tế và nông nghiệp là yếu tố quan trọng nhất.
Trong cộng đồng, người bệnh có thể mua và sử dụng kháng sinh tùy ý mà không cần đơn của bác sỹ, dẫn đến việc tạo ra những loại vi khuẩn có sức đề kháng mạnh.
Tại các bệnh viện do số lượng người bệnh quá đông; nhiều người bệnh suy giảm hệ thống miễn dịch nặng; nhiều thiết bị và kỹ thuật mới được áp dụng; vi khuẩn từ cộng đồng tăng đề kháng; kiểm soát nhiễm khuẩn, thực hành cách ly, sự tuân thủ chưa hiệu quả; tăng sử dụng kháng sinh dự phòng; tăng điều trị kháng sinh cho nhiều loại vi khuẩn theo kinh nghiệm; sử dụng kháng sinh nhiều theo vùng, theo thời gian.
Việc sử dụng kháng sinh không hợp lý, không hiệu quả đang là vấn đề có phạm vi ảnh hưởng rộng khắp ở mọi cấp độ chăm sóc y tế, là nguyên nhân làm tăng đáng kể chi phí khám chữa bệnh, tiền mua kháng sinh luôn chiếm khoảng 50% kinh phí thuốc của các bệnh viện..
Bất kỳ liều kháng sinh nào cũng góp phần dẫn tới kháng thuốc. Tuy nhiên, việc lạm dụng và sử dụng không phù hợp kháng sinh là nguyên nhân chính góp phần phát triển và lan rộng vi khuẩn kháng kháng sinh.[8]
Công cụ phân loại kháng sinh WHO – AwaRe [9]
Năm 2017, Ủy ban chuyên gia của WHO về lựa chọn và sử dụng thuốc thiết yếu đã thành lập một công cụ nhằm hỗ trợ quản lý kháng sinh ở cấp địa phương, quốc gia và toàn cầu. Trong công cụ AWaRe, kháng sinh được chia thành ba loại: tiếp cận (Access), theo dõi (Watch) và dự trữ (Reserve). Mỗi loại dựa trên tác động tương ứng của nó đối với AMR.
Nhóm tiếp cận (Access) – là nhóm kháng sinh thuộc lựa chọn đầu tay hoặc thứ hai được khuyến nghị mạnh mẽ để điều trị theo kinh nghiệm các bệnh nhiễm trùng thông thường, ít tác dụng phụ hơn, nguy cơ kháng thuốc thấp hơn và ít tốn chi phí hơn. Tất cả các kháng sinh thuộc nhóm Access là một phần của danh sách thuốc thiết yếu (EML).
Nhóm theo dõi (Watch) – là kháng sinh có nguy cơ cao tác động tiêu cực đến tình trạng kháng thuốc. Một số kháng sinh nhóm Watch cũng được đưa vào danh sách thuốc thiết yếu vì chúng là lựa chọn hiệu quả nhất cho một số các hội chứng lâm sàng được xác định rõ, việc sử dụng chúng phải được theo dõi chặt chẽ và chỉ định hạn chế, chủ yếu được sử dụng trong môi trường bệnh viện.
Nhóm dự trữ (Reserve) – là kháng sinh được coi là biện pháp cuối cùng, có hoạt tính chống lại vi khuẩn kháng đa kháng (MDR) hoặc kháng rộng (XDR), việc sử dụng chúng nên được dành riêng cho các tình huống nguy kịch.
Phân loại AWaRe nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hạn chế sử dụng kháng sinh nhóm “Theo dõi” và “Dự trữ”. Đến năm 2023, WHO đặt mục tiêu ít nhất 60% tổng lượng tiêu thụ kháng sinh đến từ nhóm “Tiếp cận”. Tuy nhiên, bằng chứng mới từ Tổ chức Y tế Thế giới cho thấy tình trạng lạm dụng kháng sinh tràn lan trên toàn thế giới trong đại dịch COVID-19, điều này có thể làm trầm trọng thêm sự lây lan “âm thầm” của tình trạng kháng thuốc kháng sinh. Đáng lo ngại, nghiên cứu phát hiện ra rằng các loại kháng sinh ‘Watch’ có khả năng kháng thuốc cao hơn thường được kê đơn nhiều nhất trên toàn cầu. [10]
|
Lời khuyên dành cho nhân viên y tế |
||
| “Phòng ngừa tốt hơn – Kê đơn tốt hơn – Phổ cập thông tin tốt hơn”
Các chuyên gia y tế là những người đi đầu thực hiện chiến lược sử dụng kháng sinh hợp lý. Để duy trì tính hiệu quả của kháng sinh càng lâu càng tốt, việc sử dụng kháng sinh cần được giảm thiểu và định hướng tốt hơn, kèm theo thông tin phù hợp đến tất cả các bên liên quan. |
||
| Phòng ngừa nhiễm khuẩn tốt hơn và hạn chế lây truyền | Kê đơn thuốc kháng sinh phù hợp | Phổ cập cho bệnh nhân, phụ huynh và những người xung quanh về các thông tin thuốc |
| – Tuân thủ các hoạt động phòng ngừa (vệ sinh tay, đeo khẩu trang…)
– Nhắc nhở về lợi ích của việc tiêm chủng: trẻ em cũng như người lớn có thể được bảo vệ khỏi nhiều bệnh nhiễm trùng do virus và vi khuẩn bằng cách tiêm phòng. Vì vậy, vaccine góp phần hạn chế sử dụng kháng sinh. |
– Ưu tiên các trường hợp không khuyến khích kê đơn kháng sinh, đặc biệt trong các trường hợp được cho là nhiễm virus
– Kê thuốc kháng sinh thích hợp nhất (ưu tiên kháng sinh phổ hẹp) – Kê đơn kháng sinh với liều lượng và thời gian điều trị phù hợp. |
– Về diễn biến tự nhiên của bệnh
– Vấn đề kháng kháng sinh – Thông tin loại kháng sinh được kê đơn và tầm quan trọng của việc tuân thủ sử dụng nó đúng cách – Lý do không kê kháng sinh cho trường hợp nhiễm virus và lợi ích của các biện pháp làm giảm triệu chứng. – Về tính cần thiết của việc không tự kê đơn thuốc kháng sinh |
| Không kê thuốc kháng sinh trong các tình huống lâm sàng không cần thiết, như:
Viêm mũi họng, viêm thanh quản; Viêm tai giữa sung huyết, viêm tai giữa thanh dịch, viêm tai giữa chưa được chẩn đoán chắc chắn ; Viêm amidan cấp tính (Trẻ em <3 tuổi và ở người lớn hoặc trẻ em > 3 tuổi không có xét nghiệm test nhanh dịch hầu họng do liên cầu tan huyết beta nhóm A hoặc xét nghiệm âm tính) ; Viêm tiểu phế quản, viêm phế quản cấp tính ; Cúm và Covid-19 ; Sốt không rõ nguyên nhân ; Trong phẫu thuật răng miệng (ở đối tượng khoẻ mạnh): áp-xe nha chu; viêm ổ răng khô ; nhổ răng bằng thủ thuật cắt bỏ xương ổ răng ; bệnh lý tuỷ (viêm tuỷ hồi phục hoặc không hồi phục). |
||
| Nếu nghi ngờ, không kê thuốc kháng sinh và đánh giá lại nhu cầu điều trị trong vòng 48 giờ nếu tình huống lâm sàng của bệnh nhân cho phép. | ||
| Thời gian điều trị bằng kháng sinh đường uống thường ngắn và phù hợp với hầu hết các bệnh nhiễm khuẩn thường gặp:
– 5 ngày đối với nhiễm khuẩn tai ở trẻ em từ 2 tuổi trở lên và đối với bất kỳ độ tuổi nào trong trường hợp thiếu amoxicillin. – 5 ngày đối với bệnh nhân viêm phổi – 6 ngày điều trị bằng amoxicillin đối với viêm amidan do vi khuẩn – 7 ngày đối với nhiễm khuẩn răng miệng (đối với một số kháng sinh nhạy cảm) |
||
| Sử dụng test nhanh giúp ngăn ngừa việc điều trị bằng kháng sinh một cách không cần thiết.
Ví dụ, với bệnh nhân đau họng cấp, test nhanh liên cầu nhóm A là một công cụ thiết yếu để chẩn đoán nguyên nhân đau họng là do virus hay vi khuẩn. Trong trường hợp test nhanh dương tính, bệnh nhân cần được điều trị bằng kháng sinh. |
||
|
Trong trường hợp thiếu kháng sinh: – Thực hiện theo các khuyến nghị cụ thể trong các tình huống không có kháng sinh – Trong trường hợp không có sẵn các dạng bào chế của amoxicillin, đặc biệt là đối với trẻ em: + Có thể cân nhắc sử dụng các thuốc pha chế theo đơn do dược sĩ thực hiện. + Tránh kê đơn các loại kháng sinh khác vì có thể kém hiệu quả hơn, nguy cơ kháng thuốc cao hơn và có thể gây thiếu hụt các loại kháng sinh này: ví dụ trường hợp thay thế amoxicillin đơn trị liệu bằng dạng phối hợp amoxicillin-acid clavulanic, gây lạm dụng kháng sinh phổ rộng. |
||
Tài liệu tham khảo:
- Antimicrobial resistance. WHO. 21 November 2023. URL: https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/antimicrobial-resistance
- Tài liệu “hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện” 2020. 5631/QĐ-BYT. Bộ Y tế.
- Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh truyền nhiễm kèm theo Quyết định số 5642/QĐ-BYT ngày 31/12/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
- About Antimicrobial Resistance. April 22, 2024. URL: https://www.cdc.gov/antimicrobial-resistance/about/index.html
- 2019 Antibiotic Resistance Threats Report. CDC. July 16, 2024. URL: https://www.cdc.gov/antimicrobial-resistance/data-research/threats/index.html
- Antimicrobial Resistance Collaborators. (2022). Global burden of bacterial antimicrobial resistance in 2019: a systematic analysis. The Lancet; 399(10325): P629-655. DOI: https://doi.org/10.1016/S0140-6736(21)02724-0
- Marquez,Patricio V, et al. Drug-resistant infections : a threat to our economic future (Vol. 2) : final report (English). HNP/Agriculture Global Antimicrobial Resistance Initiative Washington, D.C. : World Bank Group. URL: http://documents.worldbank.org/curated/en/323311493396993758/final-report
- Recommandations pour le bon usage des antibiotiques. ANSM. Dec 20. 2023. URL: https://ansm.sante.fr/actualites/recommandations-pour-le-bon-usage-des-antibiotiques.
- AWaRe classification of antibiotics for evaluation and monitoring of use, 2023. WHO. URL: https://www.who.int/publications/i/item/WHO-MHP-HPS-EML-2023.04
- WHO reports widespread overuse of antibiotics in patients hospitalized with COVID-19. WHO. 26 April 2024.
- ANSM: Khuyến cáo về sử dụng kháng sinh hợp lý. URL: http://canhgiacduoc.org.vn/CanhGiacDuoc/DiemTin/2505/ANSM-khuyen-cao-ve-su-dung-khang-sinh-hop-ly.htm.
