Thứ Năm, ngày 15 tháng 10 năm 2026. Chào mừng đến cổng thông tin điện tử Bệnh viện Y học cổ truyền Thành phố Hồ Chí Minh. "CHUYỂN ĐỔI TƯ DUY LẬP PHÁP TỪ QUẢN LÝ SANG KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN"

Thông tin thuốc

Lưu ý kê đơn BEARBIDAN có chứa thành phần chu sa

Viên nang BEARBIDAN là thuốc được sản xuất từ bài thuốc cổ phương với công thức tương tự “Hoàn Thiên vương bổ tâm” trong Dược điển Việt Nam. Với công dụng tư âm thanh nhiệt, bổ tâm an thần, thuốc được sử dụng phổ biến với tác dụng dưỡng tâm an thần; chữa suy nhược thần kinh; điều trị chứng ngủ mê, ngủ kém, ngủ không yên giấc; điều trị tình trạng tim hồi hộp, tim đập nhanh, táo bón.[1,2] Tuy nhiên, công thức thuốc gồm cao đặc thảo dược kết hợp với 0,05g Chu sa cho mỗi viên nang. Với mức liều khuyến cáo cho người lớn (uống 2-4 viên/lần x 2 lần/ngày) tương đương việc đưa vào cơ thể 0,2g – 0,4g Chu sa mỗi ngày. [1]

Chu sa còn gọi là châu sa, đơn sa. Chu sa thường ở thể bột đỏ, thành phần chủ yếu là sunfua thuỷ ngân thiên nhiên (mercuric sulfide – HgS) [3,4]. Quy trình thu hoạch bao gồm việc thu thập khoáng chất, chọn lọc phần sạch, dùng nam châm để hút bỏ tạp chất chứa sắt, sau đó rửa sạch bằng nước để loại bỏ đất cát và đá lẫn vào. Dược liệu thô phải chứa không dưới 98,0% hoạt chất HgS. Bột Chu sa sau khi bào chế phải chứa không dưới 96,0% hoạt chất HgS. [4]

HgS là một hợp chất cực kỳ khó hòa tan trong nước (độ tan chỉ khoảng 1,4 x 10-2 g/L). Do đặc tính này, nó rất khó bị hấp thu qua đường tiêu hóa của người (tỷ lệ hấp thu đường uống thấp hơn 0,2%).[5,6] Tỷ lệ này thấp hơn rất nhiều so với muối thủy ngân vô cơ hòa tan như mercuric chloride (hấp thu từ 7–15%) và thủy ngân hữu cơ như methylthủy ngân (hấp thu trên 95%).[7] Chu sa thô vẫn có độc tính mạnh do thường lẫn một lượng nhỏ thủy ngân tự do và các muối thủy ngân vô cơ hòa tan (như HgCl2). Mặc dù tỷ lệ hấp thu rất thấp, việc sử dụng chu sa liều cao hoặc kéo dài vẫn gây tích lũy thủy ngân trong cơ thể. Thủy ngân hấp thu qua đường uống phân bố chủ yếu ở gan và thận, gây tổn thương gan – thận, đồng thời có thể vượt qua hàng rào máu – não để trực tiếp gây hại cho hệ thần kinh trung ương, ngoài ra có thể gây ra các triệu chứng tiêu hóa hoặc mờ mắt [5,7]. Kết quả nghiên cứu quá trình hấp thu in vivo trên chuột sau một liều uống chu sa duy nhất cho thấy: thời gian bán thải trừ (T1/2) là 13,35 giờ. Nồng độ đỉnh trong máu đạt 2,64 pg/ml tại thời điểm 1,09 giờ sau khi dùng. Kết quả thử nghiệm độc tính bán cấp cho thấy chuột được cho uống chu sa với liều 9,5 g/kg trong 10–30 ngày. Đánh giá mô bệnh học ghi nhận tim, gan, thận cùng các cơ quan khác xuất hiện biến đổi bệnh lý thoái hóa đục (sưng đục) ở các mức độ khác nhau. Ở nhóm chuột dùng thuốc kéo dài, một số vùng mô có hiện tượng tăng tính ưa acid. Gan xuất hiện thoái hóa đục rõ rệt, những trường hợp nặng xuất hiện hoại tử ổ. Khi kéo dài thời gian dùng thuốc, tổn thương mô thận tiến triển từ thoái hóa đục nhẹ đến thoái hóa đục lan tỏa ở ống thận, xuất hiện trụ hạt trong lòng ống thận, mất nhân tế bào biểu mô ống thận và hoại tử ổ.[5] Nghiên cứu khác cũng chứng minh phơi nhiễm chu sa liều thấp (10mg/kg/ngày) tương đương với liều điều trị lâm sàng thông thường ở chuột mẹ gây tích lũy thủy ngân ở thai nhi và trẻ sơ sinh qua nhau thai và sữa mẹ, làm suy giảm thể trọng và số lượng con sinh ra. Thế hệ sau bị rối loạn hành vi vận động, xáo trộn giấc ngủ và suy giảm thính lực trung ương không thể hồi phục.[6]

Tây y hiện nay gần như không dùng sunfua thuy ngân làm thuốc. Trước kia có dùng trị bệnh giang mai nhưng thường chỉ dùng dưới dạng thuốc mỡ 10%. Ít dùng để uống. Trái lại đông y coi chu sa là một vị thuốc thông thường có tác dụng trấn tĩnh, an thần, chữa hoảng hốt, mất ngủ, ngủ hay mê, giật mình hoảng sợ, trẻ con hay khóc đêm.[3]

Theo Dược điển Trung Quốc, liều dùng chu sa khuyến cáo là 0,1-0,5g dưới dạng viên hoàn (pills) hay dạng bột (power) và tuyệt đối không được dùng dạng thuốc sắc.[4]  Ngoài ra, trong các sách cổ đều nói chu sa phải dùng sống tuyệt đối, không dùng lửa có thể gây chết người (do sức nóng biến thành muối thuỷ ngân tan nhiều). [3] Hơi thủy ngân này rất dễ hấp thu qua đường hô hấp (hiệu suất hấp thu ở phổi lên tới 80%), có thể gây viêm phế quản ăn mòn cấp tính, viêm phổi kẽ, nhiễm độc thần kinh nghiêm trọng và dẫn đến tử vong.[7]

Lưu ý và Cảnh báo quan trọng khi sử dụng Chu sa [3,4]

– Liều lượng: 0,1 – 0,5 g mỗi ngày.

– Nguy cơ tích lũy độc tính: Do có tính độc, không được dùng liều cao, và tuyệt đối không được dùng liều nhỏ kéo dài liên tục để tránh thủy ngân tích lũy trong cơ thể gây ngộ độc.

– Tuyệt đối không dùng Chu sa dưới dạng thuốc sắc (do nhiệt độ cao khi đun nấu sẽ phân hủy HgS giải phóng ra hơi thủy ngân tự do cực độc)

– Chống chỉ định: phụ nữ có thai và người bệnh suy giảm chức năng gan hoặc suy giảm chức năng thận

– Không được dùng lâu và dùng nhiều có thể làm cho người thành si ngốc

Từ những cảnh báo về độc tính tích lũy thuỷ ngân của chu sa, việc tuân thủ giới hạn thời gian dùng thuốc là nguyên tắc bắt buộc. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện chưa có nghiên cứu cụ thể nào xác định thời gian sử dụng liên tục tối đa cho bài thuốc gốc ‘Thiên vương bổ tâm’, các bác sĩ cần đặc biệt thận trọng và áp dụng đúng nguyên tắc kê đơn đối với thuốc Bearbidan nhằm đảm bảo an toàn cho người bệnh.

Hướng dẫn kê đơn an toàn Bearbidan [2]

Mỗi đợt điều trị kéo dài không quá 28 ngày

Xử trí khi quên liều: Không thay đổi liều dùng cho lần tiếp theo. Tiếp tục dùng thuốc cho hết đợt điều trị.

Chống chỉ định: Người bệnh quá mẫn cảm với thuốc, Phụ nữ có thai, Người mắc bệnh trầm cảm, Người đang vận hành máy móc, tàu xe.

Thận trọng: Người suy gan, suy thận. Bệnh nhân đang bị rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy, bị cảm mạo. Không ăn các thức ăn cay, nóng khi đang dùng thuốc. Không dùng chung với các vị thuốc: Lê lô, Đại kích, Nguyên hoa, Hả tảo, Cam toại.

Tài liệu tham khảo  

  1. Tờ hướng dẫn sử dụng thuốc Bearbidan
  2. Bộ Y tế. Dược điển Việt Nam V. Nhà xuất bản Y học; 2018.
  3. Đỗ Tất Lợi. Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. Nhà xuất bản thời đại; 2006
  4. Dược điển Trung Quốc.
  5. Zhao M, Li Y, Wang Z. Mercury and Mercury-Containing Preparations: History of Use, Clinical Applications, Pharmacology, Toxicology, and Pharmacokinetics in Traditional Chinese Medicine. Front Pharmacol. 2022;13:807807. doi: 10.3389/fphar.2022.807807.
  6. Huang CF, Hsu CJ, Liu SH, Lin-Shiau SY. Exposure to low dose of cinnabar (a naturally occurring mercuric sulfide (HgS)) caused neurotoxicological effects in offspring mice. J Biomed Biotechnol. 2012;2012:254582. doi:10.1155/2012/254582.
  7. iu J, Shi JZ, Yu YF, Liu SH, Lin-Shiau SY. Is cinnabar, a mercury-containing traditional Chinese medicine, as toxic as common mercurials? Toxicol Appl Pharmacol. 2008;228(1):110-117. doi:10.1016/j.taap.2007.12.016.

Tải tài liệu

Tác giả: ThS.DS. Nguyễn Kim Ngân
              DS. Phạm Hoàng Ngân

Đối tác